Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

HÀN TÍN GIẢNG BINH XỨ (1)
 Bách vạn tình huy bắc độ Hà, (2)
 Yên giao địa hạ hữu trầm qua. (3) 
 Du du sự hậu nhị thiên tải,
 Đãng đãng thành biên nhất phiến sa
 Khoái ngũ vị thành cam lục lục. (4) 
 Quân tiền do tự thiện đa đa. (5) 
 Khả lân thập thế sơn hà tại, (6)
 Hậu thệ đồ diên Giáng, Quán gia. (7)
                                    
 TẠM DỊCH 
 CHỖ HÀN TÍN LUYỆN BINH 
Trăm vạn cờ xí vượt phía Bắc Hoàng Hà, 
Dưới đất ngoài Thành Yên có gươm giáo bị vùi lấp 
Việc đã qua hai nghìn năm dài 
Bên thành còn một đám đất rộng hoang vắng 
Chưa được ngang hàng Phân Khoái, cam chịu vất vả, 
Trước mặt Vua, vẫn nói càng nhiều càng hay,
Khá thương giang sơn còn được truyền mười đời 
Theo lời thề đền ơn, Giáng, Quán được hậu đãi

  CHÚ THÍCH 
(1) Hàn Tín: xem chú thích số 6 trang 38 " CÁC THI SĨ TRONG CUNG ĐÌNH NHÀ NGUYỄN " 
(2) Độ Hà: Hà tức Hoàng Hà, sông lớn ở phía Bắc Trung Quốc, phát nguyên từ Thanh Hải ( Tây Tạng ), chảy qua các tỉnh Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông rồi ra biển. Nước có nhiều phù sa đất vàng nên gọi là sông Hoàng ( Hoàng Hà )
(3) Yên: Nước Yên ngày xưa ở phóa Đông Bắc Trung Quốc. Thủ đô nước Yên là Yên Kinh, tức gọi là Kế Thành ( Bắc Kinh ngày nay ) 
      Hàn Tín vượt Hoàng Hà, đem đại quân đánh nước Triệu, chiếm Hình Khâu ( Hà Bắc, Trung Quốc ), dụ hàng nước Yên rồi kéo quân sang phía Đông đánh nước Tề. Yên phản. Hán Cao Tổ Lưu Bang sai Phàn Khoái đem quân diệt nước Yên.
(4) Khoái: Phàn Khoái là một dũng tướng của Lưu Bang. Thuở hàn vi, Lưu Bang, làm Đình Trưởng ở đất Bái, kết bạn với Phàn Khoái ( làm nghề bán thịt chó ), Tiêu Hà ( làm thư ký ), Tào Tham, Chu Bột,...
     Hàn Tín có lòng đố kị với Phàn Khoái
(5) Hán Cao Tổ: tên là Lưu Bang, làm Đình Trưởng đất Bái ( hay Bá Thượng ), khởi binh cùng với Tiêu Hà, Tào Tham, Chu Bột, chống bạo Tần, cùng với Hạng Võ theo phò Trần Thắng. Về sau, nhờ có Hàn Tín, diệt được Hạng Võ. Trong những lúc luận bàn quân cơ, Hán Cao Tổ Lưu Bang hỏi Hàn Tín: 
    - Như Trẫm thì có thể chỉ huy được bao nhiêu quân? 
        Hàn Tín đáp: 
    - Bệ hạ có thể chỉ huy vài vạn quân. 
        Hán Cao Tổ lại hỏi: 
    - Thế còn khanh thì chỉ huy được bao nhiêu quân? 
        Hàn Tín trả lời: 
    - Thân thì có thể chỉ huy vài trăm vạn quân. Càng nhiều càng tốt! 
        Hán Cao Tổ cười phá lên: 
    - Càng nhiều càng tốt ư? Thế sao ta lại chỉ huy được khanh? 
        Hàn Tín trả lời: 
    - Bệ hạ không có tài chỉ huy quân nhưng lại có tài chỉ huy tướng. 
  Trong lúc Hán Cao Tổ cùng quân Sở của Hạng Võ giao tranh, Hàn Tín nghe lời xúi giục của Khoái Triệt, không đem quân đến cứu làm cho Hán Cao Tổ thảm bại, Kỹ Tín hy sinh cứu Vua Hán, ép Hán Cao Tổ phong Hàn Tín làm Tề Vương, Hàn Tín mới đem binh đến hội binh. Sau khi diệt được Sở Bá Vương Hạng Võ ( Hạng Võ thất trận, phải tự tử ở bến Ô Giang ), Hàn Tín ép vua Hán phong cho mình làm Sở Vương.
   Về sau, Hàn Tín che giấu Chung Ly Muội ( một tướng tài của Sở Bá Vương Hạng Võ ) đang trốn tránh sự truy nã của Vua Hán. Hán Cao Tổ biết được, dùng mưu của Tướng Trần Bình, bắt được Hàn Tín, Lã Hậu ( Hoàng Hậu nhà Hán ) bèn xử tử Hàn Tín.
 (6) Nhà Tiền Hán hay Tây Hán, truyền được mười đời, Vương Mãng soán ngôi lập ra nhà Tần. Luu Tú diệt được Vương Mãng, lên ngôi vua là Hán Quang Vũ, lập ra Nhà Hậu Hán hay Đông Hán.
      Đến đời Vua, bị Tào Phi, con Tào Tháo đoạt ngôi, lập ra Nhà Ngụy.
      Lưu Bị, tự là Huyền Đức, lập ra Nhà Thục, cùng với Tào Tháo và Tôn Quyền ( Nhà Ngô ) chia Trung Quốc thành ba nước: Ngụy, Thục, Ngô.
 (7) Giáng Hầu là Chu Bột
       Trong các tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Chu Bột và Quán Anh có cuộc đời trung hậu, bình lặng nhất.

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

HOÀNG HẠC LÂU (1) 
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì? 
Do lưu tiên tích thử giang my 
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng (2) 
Hạc khứ lậu không Thôi Hạo thi
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y 
Trung tình vô hạn bằng thùy tố? 
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
  
   TẠM DỊCH 
LẦU HOÀNG HẠC 
Thần tiên ở xứ nào đã trải qua bao nhiêu thời gian? 
Còn ghi lại dấu tiên ở bờ sông này 
Nay đến xưa đi chỉ là giấc mộng của người học trò họ Lư
Hạc đi lâu trống còn bài thơ của Thôi Hạo
Khói sóng ngoài hành lang ( lan can ) vẫn mênh mang
Cây cỏ ở trước mắt vẫn như vậy
Tình cảm trong lòng vô hạn biết ngỏ cùng ai? 
Trăng sáng gió mát cũng chẳng biết

   CHÚ THÍCH 
(1) Hoàng Hạc Lâu: Lầu Hạc vàng, ở Võ Xương, thị trấn Võ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc
     Tương truyền ngày xưa tại đây, Phí Văn Huy khi thành tiên cưỡi hạc vàng bay lên trời.
     XIN GIỚI THIỆU CÁC BÀI THƠ VỊNH HOÀNG HẠC
(*) Thôi Hạo: Phủ Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc, đậu tiến sĩ năm 725, đời Đường 
      
HOÀNH HẠC LÂU 
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên dịch dịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

  TẠM DỊCH
Người xưa đã từ chỗ này cưỡi hạc vàng bay đi. Ở đây chỉ còn trơ Lầu Hoàng Hạc. Hạc vàng một đi không trở lại. Trên trời đám mây trắng vẫn bay muôn đời. Hàng cây đất Hán Dương vẫn rực rỡ bên sông lạnh Cỏ thơm tươi tốt mọc trên bãi  Anh Vũ. Trời chiều, trông về làng cũ, tự hỏi: quê nhà ở nơi đâu? Khói sáng mờ mịt trên sông làm tăng thêm nỗi ưu sầu.

 (*) Trần Trọng Kim dịch thơ: 
LẦU HOÀNG HẠC 
Người xưa cưỡi hạc đến nơi đâu? 
Hoàng Hạc còn đây một mái lầu
Hoàng hạc một đi không trở lại
Mênh mang mây trắng xóa ngàn thâu
Hán Dương sông tạnh, cây in sắc
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biến màu
Chiều tối trông vời: đâu cố quận?
Trên sông khói sóng giục ai sầu

(*) Tản Đà dịch: 
GÁC HOÀNG HẠC
  Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
  Hạc vàng đi mất từ xưa;
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
  Hán Dương sông tạnh, cây bầy
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
  Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

(*) Bản dịch của Ngô Tất Tố: 
LẦU HOÀNG HẠC 
Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu Hạc còn suông với chốn này.
Một vắng, hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm, mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngút châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối, quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầu sông khói sóng gợi niềm tây
     Khi Lý Bạch [ ( 701-762 ) Đại thi hào nhà Đường Trung Quốc, rất được Vua Đường Minh Hoàng tôn trọng ] qua viến lầu Hoàng Hạc, đọc bài thơ Thôi Hạo ( hay Thôi Hiệu ) viết trên vách, đã phóng bút viết hai câu thơ sau: 
    " Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
       Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu " 
 nghĩa là: 
      " Trước mắt có cảnh nói không được
        Vì có thơ của Thôi Hiệu ở trên đầu. " 

(*) Bản dịch của Tchya ( Đái Đức Tuấn ) 
  HOÀNG HẠC LÂU 
Người cỡi hạc vàng xưa đã vắng,
Đât này trơ gác Hạc vàng không
Hạc vàng một sớm bay bay mất  
Mây trắng ngàn thu giặc giặc lòng 
Anh Vũ bãi in hương ngọn cỏ
Hán Dương cây chiếu nắng lòng sông
Chiều tà quê quán nơi nào nhỉ? 
Khói sóng trên sông chạnh nỗi lòng
    ( Chúng ta thấy Tchya dịch từ " Hoàng Hạc " trong câu hai là " Hạc vàng " là sai vì " Hoàng Hạc " ở đây là danh từ riêng, không phải chim hạc ) 
  
(2) Lư sinh mộng: Giấc mộng của chàng thư sinh họ Lư
      Đời Đường, Lư sinh thi hỏng, ở trọ Hàm Đan, gặp một đạo sĩ hàn huyên tâm sự. Đạo sĩ cho Lư sinh mượn một cái gối kê đầu ngủ, vừa lúc chủ quán trọ nấu nồi kê. Lư sinh mộng thấy cưới con gái nhà họ Thôi, thi đỗ tiến sĩ, làm quan cao, chức trọng rồi phạm tội khi quan, bị tru di tam tộc. Giật mình thức giấc, nồi kê vừa chín.
      Điển tích này còn gọi là " Nồi kê vàng " 

(*) Câu chuyện tương tự: Giấc Hòe 
    Thuần Vu Phần nằm mơ thấy mình đi đến nước Hòe An, được tuyển làm Phò Mã, vinh hoa phú quý. Về sau, đánh giặc bại trận, vợ chết, Vua bãi chức. Tỉnh dậy, thấy mình nằm ở gốc cây hòe. 
     Cũng câu chuyện nằm mộng ở gốc cây hòe, gọi là Giấc Mộng Nam Kha. Nhân vật chính trong truyện chính là Lý Công Tá, đời Đường.

(*) Lê Qúy Đôn đi sứ Trung Hoa. Qua thành Vũ Xương, ghé thăm lầu Hoàng Hạc, chép lại bài thơ sau: 
   1. Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiên châu chữ thiên niên phương thảo. 
       Duy kiến bạch vân y cựu, cánh thủy xuy ngọc địch, lạc giang thành số điểm mai hoa. 
   2. Thân tại cửu tiêu khan, nguyệt ẩn trường giang, thiên hộc minh châu dũng xuất!
       Nhẫn không vạn lý vọng, vân phù cỏ nhạc, bán thiên ngọc xích bình lai! 
   3. Nhất thượng cao lâu, diển đương niên Giang Hán phong lưu, đa thiểu thiên thu nhân vật.
       Song trì sứ tiết, hỉ thử nhật Kinh Hành hình thắng,tung hoành vạn lý kim thang.
   4. Ấp sảng khí ư tằng tiêu, hạc ảnh phiên phiên, trường tại bạch vân thiên tế
       Bá dương xuân ư  đại địa, mai hoa phiến phiến, thời lai ngọc địch thanh trung.
   5. Phật tú thát, phủ điêu manh, họa phỏng Vương Duy, trứ sắc tả châu lan phấn điệp.
       Tống tịch dương, nghinh tố nguyệt thi truyền Thôi Hạo, đắc cử tại phương thảo tình xuyên.
       Địa khống Kinh Ngô, Tây tái lưỡng nhai hùng tỏa thược
       Thiên phù Giang Hán, trung lưu vạn lý tráng sơ hà.
  
  TẠM DỊCH
     1.-Biết đến khi nào hạc vàng trở lại, cùng nhau rót chén, tưới cỏ thơm ngoài bãi.
        Chỉ thấy mây trắng ngày cũ, ai thổi sáo ngọc, gieo mai hoa chốn giang thành.  
     2.-Mình trên chín tần trông xem, sông soi bóng trăng, khác nào ngàn hạt châu tung tóe.              
        Mắt nhìn xa muôn dặm, mây bao phủ núi như một thước ngọc lonh lanh.
     3.-Một lần lên lầu cao, tưởng như ngàn vật phong lưu vùng Giang Hán,
        Hai lần đi sứ, mứng thấy thành thắng cảnh từ đất kinh thành muôn dawmhj thẳm bao la.
     4.-Khi tốt ở tầng cao, bóng chim hạc liệng bay phấp phới, thường ở nơi mây trắng ngất lưng trời.
        Mùa xuân bao phủ mặt đất, khúc mai hoa du dương, văng vẳng từ tiến sáo vàng đưa lại.
     5.-Mở nhẹ cửa, cúi nhìn cột chạm, vẽ kiểu Vương Duy, nét bút tài tình, đẹp nét son phấn điệp
       Tiễn bóng chiều, đón trăng tỏ, thơ đề Thôi Hiệu ( Hạo ), thơ thần thích thú, là câu sông tạnh khóm cỏ thơm.
  • Đất Kinh Ngô, phương Tây hai đồi cao, vững bền then khóa.
        Trời phủ Giang Hán, giữa dòng muôn dặm chảy tăng vẻ non sông.

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỘ HOÀI HỮU CẢM VĂN THỪA TƯỚNG (1)


Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên , 
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền .
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ , (2)
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên ? (3)

Ai trung xúc xứ minh kim thạch , 
Oán huyết qui thì hóa đổ quyên (4)
Nam Bắc chỉ kim vô dị tục , 
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền .

Tạm dịch :
QUA SÔNG HOÀI CẢM NHỚ VĂN THỪA TƯỚNG

Phong cảnh núi sông vẫn cứ như thế , 
Tấm lòng cô trung của Thừa Tướng lưu truyền muôn đời .
Một phen qua khỏi sông Hoài không phải là đất cũ nữa 
Biết đến năm nào trở lại Giang Tả ?
Lòng đau thương gặp cảnh nào cũng nói lên lời đá vàng , 
Huyết hận trở về hóa thành chim Đỗ Quyên .
Phong tục Nam Bắc đến nay không khác nhau , 
Thuyền qua lại trong bóng chiều buồn vô hạn 


Chú thích :
(1) Văn Thừa Tướng : Tên thật là Văn Thiên Tường ( 1236-1282 sau Công Nguyên ) hiệu là Vân Sơn , đời Nhà Tống ( Trung Hoa )
      Sau khi Nhạc Phi bị Tần Cối mưu hại , quân Nguyên vượt sông , tiến quân về phương Nam diệt Nhà Nam Tống , Văn Thiên Tường khởi binh chống giặc , được phong là Hữu Thừa Tướng . Thất trận , bị bắt giam ở Yên Kinh bốn năm , bị giết vì không chịu đầu hảng
     Ông sáng tác bài " Chính Khí Ca " nói lên nỗi lòng trung quân , ái quốc của mình .
" Tàng kim biệt khước Giang Nam lộ 
Hóa tác đề quyên đới huyết qui "

Tạm dịch :
" Từ nay cách biệt đường đi Giang Nam 
Sẽ hóa thành Đỗ Quyên kêu ra máu trở về "

(2) Hoài Hà : Xem chú thích (1) bài " Độ Hoài Hữu Cảm Hoài Âm Hầu Tác " , là ranh giới giữa Nhà Nam Tống là Tống Cao Tông Triệu Cấu , ký hòa ước với quân Kim , chia hai Trung Quốc : Phía Nam sông Hoài thuộc Nhà Tống , phía Bắc nhượng cho Kim 
(3) Giang Tả : Vùng đất Giang Đông , hạ du Trường Giang , thuộc tỉnh Giang Tô ( thời Tam Quốc , Tôn Quyền lập nước Ngô .) Là miền đất còn lại của Nhà Nam Tống 
(4) Đỗ Quyên : Xem hình tượng chim Đỗ Quyên trong" Văn Học Cổ Điển Việt Nam " trang 225 cuốn  " Tìm Hiểu Văn Học Cổ Điển Việt Nam Thế Kỷ XIX Phần II "

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX


ĐỒNG TƯỚC ĐÀI  (1)

Nhất thế chi hùng an tại tai ?
Cổ nhân khứ hề kim nhân lai .
Bất kiến Nghiệp trung (2) Ngụy Võ Đế (3)
Đãn kiến giang biên Đồng Tước Đài . 
 
Đài cơ tuy tại dĩ khuynh dĩ , 
Âm phong nộ hào thu thảo my 
Ngọc Long Kim Phụng tận mang mang (4)
Hà huống đài  trung ca vũ kỹ !

Tri nhân thịnh thì thùy cảm dương , 
Diểu thị Hoàng đế lăng hầu vương 
Chỉ hận tằng đài không ngột ngột , 
Tiểu Kiều (5) chung lão giá Chu Lang (6)

Nhất tiêu đại hạn hữu thì chí , 
Thượng thực tấu ca đồ duyệt qủi .
Phân hương mại lý khổ đinh ninh (7)
Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ !

Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm , (8)
Bất thị minh ai nhi nữ khí . 
Thiên cơ vạn xảo tận thành không ,
Chung cổ thương tâm Chương Giang thủy (9)

Ngã tư cổ nhân thương ngã tình , 
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh 
Như thử anh hùng thả như thử , 
Huống hồ thốn công dữ bạc danh 

Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại , 
Thử địa cao đài ưng vị khuynh 

Tạm dịch :

ĐÀI ĐỒNG TƯỚC

Người hùng một thời đang ở đâu ?
Người xưa đi , (hề ) , người đời nay lại 
Không thấy Ngụy Võ Đế trong Nghiệp Thành , 
Chỉ nhìn thấy Đài Đồng Tước ở bên sông .

Nền đài tuy còn nhưng đã nghiêng lở , 
Gió âm gào giận , cỏ thu xơ xác .
Điện Ngọc Long , Kim Phụng tất cả đều mông lung , 
Huống hồ các ca vũ trong đài 

Người này lúc thịnh không ai dám dụng đến 
Khinh thường Nhà Vua , làm nhục các vương hầu  
Chỉ tiếc đài cao vòi vọi trở thành uổng phí 
Tiểu Kiều đến già cũng là vợ của Chu lang 

Một buổi mai hạn lớn có lúc vẫn đến , 
Dâng đồ ăn diễn ca nhạc làm vui hồn ma .
Khổ tâm dặn dò chia hương và bán giày 
Trượng phu đường hoàng sao lại thế ?
Phân hai mai lý khổ đinh ninh ?

Kẻ gian hùng tự có tâm cơ riêng 
Không phải kêu thương như tính khí đàn bà 
Nghìn khôn vạn khéo cũng thành không , 
Nỗi thương tâm từ ngàn xưa như nước sông Chương chảy .

Nghĩ đến người xưa mà xót thương phận ta .
Bồi hồi cúi ngửa trông trời đất buồn cho kiếp sống nổi trôi 
Anh hùng như vậy mà vẫn vậy 
Huống hồ kẻ chỉ có một công mọn và danh mỏng .
Nếu nghiệp lớn ở nhân gian mà còn mãi mãi 
Thì đài cao ở đất này không bị nghiêng lở

Chú thích :
(1) Đồng Tước Đài : Là tên của một cái đài .
      Cuối đời Hán , Đông Hán , nước Tàu chia ba , gọi là thế chân vạc , gồm Ngụy , Thục , Ngô .
      Nước Ngụy có vua , dòng dõi Lưu Bang , không có thực quyền , quyền hành trong tay Tào Tháo ( Tào Mạnh Đức , bị gọi là Tào A Man ) ; Nước Thục do Lưu Bị làm vua , có Khổng Minh Gia Cát Lượng phụ tá ; Nước Ngô do Tôn Quyền làm vua , có Chu Du ( hoặc Châu Du hoặc Châu Do , Chu Do ) còn gọi là Chu Công Cẩn
      Tào Tháo cho xây một cái đài gọi là đài Đồng Tước trên bờ Chương Giang ( tỉnh Hồ Nam , Trung Quốc )
       Ngày khánh thành , Tào Thực ( Tào Tư Kiến ) , con trai thứ của Tào Tháo , có tài văn chương , đã sáng tác một bài phú vịnh đài Đồng Tước , trong bài có hai câu :
" Liên nhị kiều ư đông tây hề , 
Nhược trường không chi nhuế đống "
(Bắc liền đông tây hai cầu nổi lên như cầu vồng giữa lưng trời  )

       Tào Tháo đem đại quân đánh Ngô . Nếu Ngô thua hoặc đầu hàng Ngụy thì Thục cũng sẽ bị thôn tính nên Khổng Minh sang Ngô , khích vua tôi Tôn Quyền và Chu Du , bằng cách sửa hai câu trong bài phú vịnh Đồng Tước Đài của Tào Tháo thành hai câu :

" Lãm Nhị Kiều ư Đông Nam hề , 
Lạc triều tịch chi dữ cộng "
( Bắt hai nàng Kiều ở Giang Nam về để sớm tối chung vui )
        
        Chu Du vô cùng tức giận vì Nhị Kiều là Đại Kiều - vợ Tôn Sách , chị dâu của Tôn Quyền và Tiểu Kiều chính là vợ của Chu Du 
        Liên quân Thục Ngô đánh tan 80 vạn quân Tào ở sông Xích Bích bằng một trận hỏa công ánh lửa rực trời .

        Truyện Kiều có câu ( câu 156 )
         " Một nền Đồng Tước khóa xuân Hai Kiều "
         Nguyễn Du dịch câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Xích Bích Hoài Cổ :
" Đồng Tước xuân thâm tỏa Nhị Kiều "

(2) Nghiệp : Nghiệp Thành , là nơi Tào Tháo đóng đô ( tên một thành cổ thuộc tỉnh Hà Nam , Trung Quốc )
(3) Ngụy Võ Đế : Con trưởng của Tào Tháo là Tào Phi , cướp ngôi Nhà Hán , làm Vua nước Ngụy , xưng hiệu Văn Đế , truy tôn Cha ( Tào Tháo ) làm Ngụy Võ Đế
(4) Ngọc Long , Kim Phụng : Tên hai tòa lầu ở hai bên Đài Đồng Tước
(5) Tiểu Kiều : Là vợ của Chu Du 
(6) Chu Lang : Tức Chu Du 
(7) Trước khi qua đời , Tào Tháo dặn dò vợ và các người thiếp : Dư Hương khả phân , dữ chư Phu Nhân , chư xá trung , vô sở vi , học tác lí tố mại dã " .( Những vật có hương thơm còn thừa thì chia cho các phu nhân , các người thiếp không có việc làm thì hãy học đan giày dép để bán )
(8) Gian hùng : Người đời sau cho rằng Tào Tháo không phải là anh hùng như ông ta tự khoe khi nói chuyện với Lưu Bị , mà là một tay gian hùng , lấn át quyền Vua .
(9) Chương Giang : một con sông chảy qua tỉnh Hà Nam , Trung Quốc . Mộ của Tào Tháo ở ven sông .
     

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỘ HOÀI  (1) HỮU CẢM HOÀI ÂM HẦU (2) TÁC

Tầm thường nhất phạn báo thiên câm ( kim )  (3)
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm 
Thôi thực giải y nan bội đức ,    (4)
Tàng cung phanh cẩu diệc cam tâm (5)
Bách Man Khê động lưu miêu duệ (6)
Lưỡng Hán sơn hà biến cố câm ( kim ) 
Trù trướng giang đầu tư vãng sự , 
Đoạn vân suy thảo mãn Hoài Âm .

Tạm dịch : 

QUA SÔNG HOÀI CẢM NHỚ HOÀI ÂM HẦU MÀ SÁNG TÁC

Một bữa cơm thường mà báo đáp nghìn vàng , 
Nghĩa vua tôi trong năm năm rất sâu sắc 
Không quên được cái công đức nhường cơm sẻ áo 
Dù cất cung mổ chó cũng cam lòng 
Còn để lại các con cháu trong các khe động các bộ tộc Man di 
 Giang sơn hai nhà Hán đã thay đổi .  
Đầu sông đau xót nhớ lại chuyện xưa , 
Mây đứt cỏ tàn đầy Hoài Âm .

Chú thích :
(1) Độ Hoài : Qua sông Hoài ( Hoài Hà ) . Sông Hoài thuộc phần đất các tỉnh An Huy và Giang Tô 
        (2) Hoài Âm Hầu : ( Xem chú thích số 6 trang 38 " Các Thi sĩ trong Cung Đình Nhà Nguyễn của tác giả Võ Đại Mau )
        (3) Hàn Tín báo ân " Xiếu mẫu " ngày xưa đã cho Hàn Tín một bữa cơm lúc Hàn Tín còn thất thế , phải đi xin ăn 
        (4) Lúc đắc thế , Hàn Tín không quên cái ân nghĩa nhường cơm sẻ áo của vua Hán Cao Tổ Lưu Bang 
       (5) Ý của Nguyễn Du là : sau khi bình định Đất Nước , vua Hán giết hại các công thần trong đó có Hàn Tín .
       (6) Man Khê : Chỉ nơi các dân tộc kém văn minh sinh sống .
             Chinh Phụ Ngâm có câu :
             " Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện "
             Bà Đoàn dịch :
             " Tới Man Khê bàn sự Phục Ba " 
       (7)  Lưỡng Hán : Tây Hán ( Lưu Bang ) và Đông Hán ( Lưu Tú )



NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỒ TRUNG NGẪU HỨNG

Sơn hạ kiều tùng , tùng hạ phần , 
Luy luy đô thị cổ thi nhân 
 Tự do tự tại bất tri tử
Hoa lạc hoa khai vô hạn xuân 
 Phục lạp tử tôn không lỗi tửu , 
Thế gian phú quí đẳng phù vân 
 Bách niên đáo để giai như thị , 
Hồi thủ mang mang nhất phiến trần .

Tạm dịch :

NGẪU HỨNG GIỮA ĐƯỜNG 

Dưới núi cây tùng cao , dưới cây tùng là mộ , 
Ngổn ngang là người xưa 
Tự do tự tại không biết chết 
Hoa rụng hoa nở vô hạn mùa xuân 
Giỗ chạp con cháu rưới rượu mãi , 
Giàu sang thế gian như mây trôi 
Trăm năm rốt cuộc đều như vậy 
Quay đầu nhìn lại man mác chỉ là một đám bụi .



NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU   (1)
      
Nguy lâu trĩ cao ngạn ,
Đăng lâm hà tráng tai !
        Phù vân Tam Sở tận ,  (2)   
Thu thủy Cửu Giang lai (3
Vãng sự truyền tam túy (4)
Cố hương không nhất nhai 
Tây phong ỷ cô hạm, 
Hồng nhạn hữu dư ai (5)

 Tạm dịch :

LÊN LẦU NHẠC DƯƠNG 

Lầu ngất đứng bờ cao 
Lên nhìn lớn đẹp thay !
Mây bao phủ đất Tam Sở , 
Nước thu đến từ Cửu Giang 
Việc xưa truyền lại có người say ba lần 
Nhìn về quê nhà một khoảng chân trời trống không 
Trước gió Tây dựa lan can một mình , 
Nghe có tiếng kêu bi ai của chim Hồng , chim Nhạn 

Chú thích :

 (1) Nhạc Dương lâu : Lầu Nhạc Dương , nằm ở cửa Tây thành huyện Nhạc Dương thuộc tình Hồ Nam ( Trung Quốc ) là một danh thắng , nơi hò hẹn của các tao nhân mặc khách , do Trương Duyệt đời Đường xây dựng 
      Lầu Nhạc Dương nhìn ra Động Đình Hồ , tám trăm dặm vuông, gọi là Bát Bách Lý Động Đình, là một hồ nước ngọt lớn, xưa là hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc, bây giờ, một số bị phù sa, xếp sau hồ Bà Dương. Hồ Động Đình nằm về phía Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, là hồ điều hoa sông Dương Tử, gồm các hò sau tạo thành: Đông Động Đình, Vạn Tử., Mục bình, Đại Thông, Hoàng Lĩnh Lộc, diện tích bề mặt  khoảng 2 820km vuông, mùa lũ khoảng 20 000 km vuông, do 4 sông dổ nước vào : sông Tương, sông Tư, sông Nguyên và sông Tiêu đỏ nước vào sông Tương, gần Trường Sa.
      Hồ Động Đình là một danh thắng gắn liền với Lầu Nhạc Dương 
 (2) Tam Sở : 3 nước Sở : Đông Sở , Tây Sở và Nam Sở , thuộc nước Sở cũ ( vùng đất thuộc các tỉnh ngày nay : Hồ Nam , Hồ Bắc , và Chiết Giang ) 
(3) Cửu Giang : Là  9 sông(???) chảy vào hồ Động Đình như sông Dương Tử , sông Nguyên , sông Tương ...
(4) Tam túy : 3 lần say 
     Lữ Nham tự Đồng Tân , hiệu là Thuần Dương , một trong Bát Tiên , khi thăm lầu Nhạc Dương , hạ bút viết : 
     " Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức , 
        Lãng ngâm phi quá Động Đình Hồ "
Tạm dịch : 
      " Ba lần say ở lầu Nhạc Dương không ai biết ,
         Hát vang bay qua hồ Động Đình "
(3) Hồng nhạn : chim Hồng , chim Nhạn
( Xin xem Nghiên cứu Văn Học Cổ Điển  đầu thế kỷ XIX : " Các Thi sĩ trong Cung Đình Nhà Nguyễn " của tác giả Võ Đại Mau  trang 177-178-179-180)

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

               DỰ NHƯỢNG KIỀU        (1)
   Dự Nhượng nặc thân thích Tương Tử (2)
   Thử địa nhân danh Dự Nhượng Kiều .
   Dự Nhượng ký sát Triệu diệc diệt  (3)
   Kiều biên thu thảo không tiêu tiêu .
   Quân thần chính luận kham thiên cổ
   Thiên địa toàn kinh tận nhất tiêu .
   Quân thần chính luận kham thiên cổ , 
   Thiên địa toàn kinh tận nhất triêu
   Lẫm liệt hàn phong đông nhật bạc ,
   Gian hùng quá thử thượng hồn tiêu.

Tạm dịch :

               CẦU DỰ NHƯỢNG

   Dự Nhượng nép mình giết Tương Tử .
   Vì vậy đất này được gọi là cầu Dự Nhượng.
   Dự Nhượng bị giết, nước Triệu bị diệt
   Cỏ thu bên cầu trông tiêu điều xơ xác
   Lời bàn nghĩa vua tôi đúng muôn thuở,
   Đạo trời đất làm tròn trong một buổi sớm
   Gió lạnh rét mướt mưa đông lợt lạt ,
   Gian hùng qua đất này còn mất hồn .

Chú thích
  (1) ,(2) Dự Nhượng : người nước Tấn thời Xuân Thu
   Dự Nhượng thờ hai họ Phạm và Trưng Hoàng , không được thương mến và trọng dụng
   Trí Bá diệt Phạm và Trung Hoàng , Dự Nhượng theo Trí Ba,được quí mến và biệt đãi . Trí Bá bị Triệu Tương Tử hợp quân với Hàn Ngụy tiêu diệt
   Dự Nhượng rấp tâm giết Tương Tử để trả thù cho Trí Bá
   Dự Nhượng bỏ gia đình trốn vào núi thay đổi họ tên , làm khổ dịch lau chùi cầu tiêu cho Tương Tử . Dự Nhượng giấu trong người một thanh trủy thủ đã bị Tương Tử bắt được . Cho Dự Nhượng là người hiền có nghĩa khí , Tương Tử thả cho đi .
   Để tránh bị phát hiện , Dự Nhượng tự sơn mình giả làm bị phong cùi , nuốt than hồng cho giọng khàn khàn rồi giả dạng bị câm , sống lăn lộn giữa chợ đến nỗi người vợ cũng không nhận ra
   Một hôm , Dự Nhượng nấp dưới cầu đợi Tương Tử đi qua rồi nhảy lên ám sát . Khi sắp lên cầu , ngựa chở Tương Tử bỗng dưng lại cất vó hí vang , Tương Tử nghi là Dự Nhượng nấp dưới cầu , cho quân sĩ lục soát , quả nhiên bắt được Dự Nhượng
   Tương Tử quở trách Dự Nhượng :
   -Nhà ngươi đã từng theo họ Phạm và họ Trung Hàng . Trí Bá diệt họ sao nhà ngươi không  diệt Trí Bá để trả thù cho họ mà lại còn theo hầu Trí Bá ? Nay Trí Bá đã chết rồi , sao ngươi một mình vì Trí Bá mà đi trả thù một cách sâu sắc vậy ?
    Dự Nhượng trả lời :
  -Tôi theo hầu họ Phạm và họ Trung Hàng , hai họ đó xem tôi là hạng tầm thường nên tôi đối đãi theo lẽ tầm thường . Ngài Trí Bá biệt đãi tôi nên tôi báo đáp theo lẽ đặc biệt .
    Tương Tử nói :
   -Nhà ngươi vì Trí Bá mà không tiếc tình cảm gia đình và mạng sống của mình , tìm mọi cách để trả thù cho chủ , ngươi thật là người có nghĩa khí ! Quả nhân đã từng tha mạng cho ngươi mà ngươi vẫn không tỉnh ngộ . Bây giờ quả nhân không thể tha cho nhà ngươi nữa . Dự Nhượng, nhà ngươi hãy tự xử đi .
    Dự Nhượng xin Tương Tử cho phép đâm vào áo của Tương Tử rồi chết cũng cam lòng .
    Tương Tử thuận cho , cởi áo khoác ngoài sai quân sĩ đưa cho Dự Nhượng
    Dự Nhượng đâm trủy thủ vào áo khoác của Tương Tử ba lần , vừa làm vừa kêu :
   -Ta đã trả thù được cho Trí Bá rồi ! Rồi đâm cổ tự tử .
    Tương Tử cho quân đem xác Dự Nhượng về nhà cho vợ con chôn cất .
    Từ đó cây cầu này được gọi là cầu Dự Nhượng
   (3)  Triệu : Nước Tấn bị diệt , phân chia thành ba nước : Triệu , Hàn , Ngụy gọi là Tam Tấn . Về sau các nước này đều bị Tần diệt
     Triệu ở đây ám chỉ nước Triệu của Tương Tử


Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

DƯƠNG PHI CỐ LÝ   (1)

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh ,
Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh
Tự thi cử triều không lập trượng   (2)
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành   (3)
Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến   (4)
Mịch mịch Tây giao khâu lũng bình   (5)
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ ,
Đông phong thành hạ bất thăng tình

QUÊ CŨ CỦA DƯƠNG PHI

Vùng núi cây hoa cỏ vắng tanh
Lời truyền ấy nơi sinh Dương Quý Phi
Từ xưa triều đình không lập tượng
Phải chăng gán tội sắc khuynh thành
Phía nam cỏ bồng cao che khuất
Mặt tây bình thảo mọc um tùm
Cỏ hoa bừa bãi che tầm mắt
Đông phong thành hạ bất thăng tình

Chú thích :
(1)Dương Phi :tức Dương Quý Phi , tên là Dương Ngọc Hoàn,  đạo hiệu Thái Chân ở Hoàng Nông , Hoa Âm thuộc tỉnh Thiểm Tây ( Trung Quốc ) , được vua Đường Minh Hoàng phong làm Quý Phi sau tư thông với An Lộc Sơn , con nuôi Đường Minh Hoàng . An Lộc Sơn làm phản , Vua Đường đem Dương Quý Phi sơ tán . Quân lính đòi Vua phải giết Dương Phi họ mới chịu đánh giặc . Bất đắc dĩ , vua Đường phải để Dương Phi treo cổ dưới cây liễu ở gò Mã Ngôi thuộc huyện Hưng Bình tỉnh Thiểm Tây .
Nguyên Đường Minh Hoàng đêm trung thu thưởng nguyệt , nằm mộng thấy mình lên cung trăng , được Hằng Nga tiếp đãi , các tiên nữ trình diễn một màn múa rất đẹp mắt . Tỉnh dậy , Nhà Vua sáng tác một điệu múa gọi là " Nghê Thường Vũ Y "
Từ " Nghê Thường " được dùng để chỉ một người con gái đẹp " Nghê Thường " trong trăng là Hằng Nga
     " Cung Oán Ngâm Khúc " có câu :
     " Dẫu mà tay múa , miệng  xang,
       Thiên tiên cũng ngảnh Nghê Thường trong trăng "
       Trong " Bích Câu Kỳ Ngộ "
      "Đong đưa khoe thắm đua vàng ,
       Vũ y thấp thoáng , Nghê Thường thiết tha "
Có người cho rằng chữ " vũ " trong " vũ y " là lông chim ...
Theo tôi nghĩ , chữ " vũ " này có nghĩa là " múa ". "Vũ y" là " múa áo " , các tiên nữ áo quần tha thướt , hai tay cẩm hai vạt áo mà múa lên , như cánh bướm chập chờn , khoe đủ màu sắc ...

Đại Thi hào Bạch Cư Dị ( 772-846) cảm thương tình yêu của vua Đường Minh Hoàng với Dương Phi , đã sáng tác " Trường Hận Ca " ghi lại mối tình vương giả
      "Thánh chủ triêu triêu mộ mộ tình ,
       Hành cung kiến nguyệt thương tâm sắc ...
       Mã Ngôi pha hạ mê thổ trung ,
       Bất kiến ngọc nhan không tử xứ .
       Quân thần tương cố tận chiêm y "
(2)Những con ngựa được tập luyện đứng yên là phi vệ đón rước Vua . Con ngựa nào hí lên môt tiếng là bị đưa ra ngoài . Ám chỉ các quan đã không dám lên tiếng can gián Vua nhận An Lộc Sơn làm con nuôi mới xảy ra cớ sự .
(3) Khuynh thành : làm nghiêng đổ thành trì , ý nói sắc đẹp của gian nhân làm cho mất nước .
                             "Nhất tiếu khuynh thành
                              Tái cố khuynh quốc "
(4)Nam Nội :tức Hưng Khánh Cung , chổ ở của Đường Minh Hoàng và Dương Phi ở Kinh đô Trường An
(5)Tây Giao :cánh đồng phía Tây . Gò Mã Ngôi ở phía Tây Trường An .( Mã Ngôi là tên người , thời Tấn đã xây một cái thành ở miền đất này để đáng nhau , về sau miền đất này được gọi là Mã Ngôi
Mã Ngôi thuộc huyện Hưng Bình , tỉnh Sơn Tây , Trung Quốc , nay là thị trấn Mã Ngôi )

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

Á PHỤ MỘ   (1)
Nhãn khan Bá thượng ngũ vân phù   (2)
Cấp cấp phương đồ nhất kích mưu   (3)
Đãn đắc thử tâm vô phụ Sở   (4)
Bất tri thiên mệnh dĩ quy lưu   (5)
Bá đồ dẫn diệt thiên niên hậu ,
Cổ mộ hoang lương tam xích thu .
Đa thiểu nhất tâm trung Sở sự ,
Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu .   (6)

Tạm dịch
MỘ Á PHỤ
Mắt thấy mây năm màu nổi đất Bá Thượng
Còn bày mưu đánh một trận vào kẻ thù .
Chỉ một lòng không phụ Sở,
Không biết mệnh trời đã về họ Lưu
Mưu đồ bá nghiệp tiêu mất nghìn năm sau ,
Mồ xưa lạnh lẽo dưới ba thước cỏ thu
Nhiều ít một lòng trung với Sở ,
Thường bị người đời cười là ngu .

MỒ Á PHỤ
Chòm mây năm sắc vờn trên đê
Ngôi mồ ẩn hiện một vùng riêng
Lòng người nằm đó không phụ Sở
Biết kêu trời định phải về Lưu
Nghìn năm nghiệp bá còn ghi vết
Mộ cổ hoang lương dưới trời thu
Nhiều ít tấc lòng trung với Sở
Ngại lời thiên hạ trích người ngu

Chú thích :
(1)Á Phụ : Chú , tức là Phạm Tăng , học rộng tài cao . Tần Thủy Hoàng tàn bạo , khắp nơi nổi dậy . Có hai lực lượng mạnh nhất là Hạng Võ và Lưu Bang
     Bảy mươi tuổi , Phạm Tăng ra giúp Hạng Võ , được tôn là Á Phụ , khuyên Hạng Võ giết Lưu Bang nhiều lần nhưng Hạng Võ không nghe . Trúng kế chia rẽ của mưu thần Lưu Bang, Hạng Võ tước binh quyền Phạm Tăng và đuổi đi . Về đến Bành Thành , Phạm Tăng bị ung nhọt mà chết
(2)Bá Thượng ngũ vân ph:
     Phạm Tăng thấy mây năm màu nổi trên đất Bá Thượng ( Đất Bái , phía đông Trường An tỉnh Thiểm Tây ) .Lưu Bang nguyên là đình trưởng ở đây . Cùng với các bạn Phàn Khoái , Tiêu Hà , Tào Tham , Chu Bột,..., Lưu Bang khởi nghĩa chống bạo Tần . Phạm Tăng theo giúp Hạng Võ , bày mưu, tôn một người cháu của Vua nước Sở lên làm Sở Hoài Vương .Sở Hoài Vương qui định rằng " Ai vào Quan Trung ( kinh đô nước Tần ) trước nhất , sẽ làm Vua "
Quân Sở ( Quân Hạng Võ ) mạnh hơn ,lại có Phạm Tăng nhưng đi đến đâu thì giết đến đó , làm cho quân Tần và dân mỗi thành liều chết chống lại nên vào Quan Trung sau quân Hán ( Lưu Bang )
     Lưu Bang lấy nhân nghĩa làm đầu ,trước khi đánh mỗi thành quân Tần trấn giữ , đều gởi thư khuyến dụ . Chiếm được thành thì ra nghiêm lệnh cấm hạch sách , quấy nhiễu dân nên được lòng quân dân Tần , vào Quan Trung sớm hơn quân Sở
     Phạm Tăng thấy mây năm màu nổi trên đất Bái , đã biết rằng cơ đồ sẽ thuộc về Lưu Bang
(3) Nhất kích mưu : Hạng Võ nhất quyết không nhường Lưu Bang . Biết mình yếu nên Lưu Bang khiêm tốn xin vào đất Ba Thục (Tứ Xuyên ) nhưng Phạm Tăng vẫn quyết giết Lưu Bang . Trong buổi tiệc Hồng Môn , Phạm Tăng sai Hạng Trang múa kiếm để giết Lưu Bang nhưng không thành . Về sau , Lưu Bang từ đất Thục , đem quân tiến ra đánh và thắng Hạng Võ , Hạng Võ phải tự tử tại bến Ô Giang .
(4)Sở Bá Vương: Hạng Võ lên ngôi Vua , lập ra nước Sở . Hạng Võ được gọi là Sở Bá Vương
(5) Lưu : là Lưu Bang
    Lưu Bang đánh thắng Hạng Võ , lập ra nhà Hán :Tây Hán Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán . Lưu Tú diệt Vương Mãng , lập ra nhà Đông Hán .
    Nguyễn Du đem từ " Lưu " để đối với từ " Sở " là không chuẩn : một bên là họ của người , một bên là tên của một nước nhưng từ " Hán " cùng thanh trắc với từ " Sở "...
(6)Đời sau cho Phạm Tăng là " ngu trung "
    Phạm Tăng trên thông thiên văn , dưới thông địa lý , đã biết " chân mệnh thiên tử " là Lưu Bang rồi mà vẫn còn ngoan cố , ra sức trung thành với Hạng Võ , bày mưu tính kế giết cho được Lưu Bang
    Người ta nói :" Mưu sự tại nhân , thành sự tại thiên " . Phạm Tăng cho rằng :" Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều " nhưng rồi không vượt qua được " Thiên mệnh " , chết trong cô đơn và uất hận

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

NGUYỄN DU VÀ BẮC HÀNH TẠP LỤC

Ngày 6 tháng 2 năm 1813 ( Quý Dậu ) , Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Đại học sĩ và cầm đầu Sứ Bộ sang Tàu
Lộ Trình của Sứ Bộ gồm 3 giai đoạn
          1.Giai đoạn thứ nhất : Từ Thăng Long thành đến Nam Quan
          2.Giai đoạn thứ hai : Qua khu vực cũ của nước Sở đến Yên Kinh, Kinh đô của Nhà Thanh , theo sông Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây , thăm di tích Triệu Đà , qua Thương Ngô , Tam Sở , thăm mộ hai bà Nữ Anh và Nga Hoàng ở núi Cửu Nghi ( hai bà vợ của Đế Thuấn )
Ngày 18 tháng 7 năm 1813 , qua Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam ( đừng lầm với quần đảo Trường Sa của Việt Nam ) , thăm di tích Khuất Nguyên ( sông Mịch La )- Nhớ Giả Nghị
Đến Hành Dương thăm mộ Đỗ Phủ ( thi sĩ đời Đường ), đi Nhạc Dương , thăm Hoàng Hạc Lâu .
Vào Hàn Dương , qua Cốc Khẩu đến thành Tín Dương , qua sông Hoài thuộc địa phận An Huy ( tỉnh Giang Tô ), nhớ đại công thần Nhà Tây Hán Hàn Tín - Văn Thiên Tường Nhà Tống
Đến Hứa Đô , thăm mộ Âu Dương Tu , vượt Hoàng Hà , đến Nghiệp Thành có 72 ngôi mộ của Tào Tháo
Đến Hàm Đan ( Kinh đô nước Triệu thời Thất Quốc ) thuộc tỉnh Hà Bắc . Nhớ Lạn Tương Như - mộ Liêm Pha ( hai văn thần võ tướng của nước Triệu ),  đình Tô Tần ( Tấn Dương Sơn Tây ) nhớ Dự Nhượng -Kinh Kha -đền Đế Nghiêu - mộ Lưu Linh.
Đến Yên Kinh ( Bắc Kinh )
          3.Giai đoạn thứ 3 : Từ Yên Kinh về nước qua ngã Hải Nam
Từ Sơn Đông - An Huy - Hà Bắc - Quãng Tây , thăm quê Khổng Tử , Mạnh Tử - đài Quản Trọng ( Tướng Quốc nước Tề cũ , thời Đông Châu ) Kê Khang - mộ Liễu Hạ Huệ - Phạm Tăng ( Mưu thần của Hạng Võ )- Hạng Võ
Tháng chạp năm Quý Dậu theo đường sông về nước : 29 tháng 3 năm 1814 ( Giáp Tuất)
 Trên đường đi sứ , Nguyễn Du cũng chứng kiến cảnh dân chúng Trung Quốc lầm than cơ cực , người nghèo đói đầy dẫy khắp nơi :
          " Hữu phụ huề tam nhi
          Tương tương tọa đạo bàng
          ...
          Lệ lưu khâm lang lang
          Quần nhi thả hỉ tiếu
          Bất tri mẫu tâm thương
          Mẫu tâm thương như hà !"
                                (Sở Kiến Hành )
Nguyễn Du ra đi với một tâm trạng buồn đau , chua xót : bạn đồng liêu kì thị , bạn cũ chê cười :
          " Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
          Hồng sơn , sơn hạ Quế Giang thâm "
Tạm dịch :
          "Ta có tâm sự chẳng biết ngõ cùng ai
          Có chăng chỉ có Quế Giang sâu thẳm Hồng Lĩnh mà thôi "
Tuy cõi lòng tan nát nhưng Nguyễn Du vẫn làm tròn trách nhiệm mà Nhà Vua ( Vua Gia Long ) đã giao phó chơ Sứ Bộ , trong cương vị là người Chánh Sứ , cầm đầu Sứ Bộ .

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

TIẾNG NƯỚC TA PHONG PHÚ VÀ ĐA DẠNG (tiếp theo)


Một hình dung từ đứng sau một danh từ sẽ có nghĩa khác nếu chúng ta đem hình dung từ ấy đặt trước tiếng danh từ.
Thí dụ : - bụng tốt (ăn uống thoải mái, không sợ...., xin lỗi , Tào Tháo đòi,-xin lỗi "cụ" Tào nhé!)     +tốt bụng(chí người có lòng nhân ái).
              -bụng xấu(có "hi vọng" được "cụ Tào"đòi gấp nếu ăn ...tạp)
             +xấu bụng(người có lòng dạ hẹp hòi, ích kĩ,...v.v...)
              -mặt tái(nước da xấu, có thể bị...sốt rét a!)
              +tái mặt(người xấu bụng,bị vạch mặt, chỉ tên...v.v..)
  nhiều lắm : mặt đỏ-đỏ mặt; mặt đẹp-đẹp mặt (từ "đẹp mặt" có nghĩa ngược lại, chẳng hạn, người chồng hoặc người vợ thất thố trước đám đông, bị bạn bè chê cười,người vợ hoặc người  chồng  sẽ "rít" lên :"Rõ ĐẸP MẶT chưa kìa!"...
Chỉ đảo một từ trong câu nói, lập tức nội dung  sẽ khác đi.
   Thí dụ:   "Con đi ăn đi!"    "Dạ, thưa Ba, con đi ăn"; "Ăn đi con".
      Một thí dụ khác : Xem phim nước ngoài, nhất là phim Hồng-Kông, các nhân vật trong phim, ngay cả nhân vật nữ, đang nói chuyện, bỗng đứng dậy, nói đi toa-lét...
Đi toa-lét (toilette)...Ngoài từ toa-lét, còn có từ nào khác? Ở Mỹ hoặc trên máy bay, có từ W.C hoặc Restroom  ...
    Tiếng Nước ta thì, xin lỗi mọi người nhé, nhiều lắm:
   +đi nhà xí;
   +đi đồng (đi ra ngoài đồng ruộng,-dĩ nhiên ngày xưa, ở miền quê, không có "toa-lét" trong nhà)
   +đi cầu (ngồi ... trên...cầu...)
   +đi sông (ra bờ sông, ngồi...).
   +đi việc cần nặng (tức là đi...đại tiện. Cái từ này cũng như bao nhiêu từ khác, bàn thân nó không có nghĩa gì; nó chỉ mang cái nghĩa mà ta gán cho nó thôi nhưng mà khi nghe thi thấy ghê ghê...Đúng không??? nhưng chưa thấy ghê bằng tư "đi i...")
   Giờ nhập thêm mấy từ : đi W.C, đi toa-lét, từ "restroom" chưa du nhập vào Tiếng Nước ta...a ha! a ha!

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

TIẾNG NƯỚC TA PHONG PHÚ VÀ ĐA DẠNG (tiếp theo)

                                    PHẦN TRỌNG TÂM                            
        "Tôi yêu Tiếng Nước tôi từ khi mới ra đời..."(Phạm Duy)...
        Từ "tiếng" bản thân của nó thì không có nghĩa... "Tiếng" gì??? : Tiếng nói? Tiếng ca? Tiếng hát, Tiếng nhạc, Tiếng động, Tiếng sấm, Tiếng tốt? Tiếng xấu ?...v.v....
      "Tiếng Nước tôi" đương nhiên là Tiếng nói, là Tiếng Mẹ Đẻ, là Tiếng Việt...
      "Tiếng nói" thường đi đôi với chữ viết...Học "Tiếng Anh" thì phải viết tiếng Anh, học "Tiếng Pháp" thì phài viết tiếng Pháp...v.v....
       Một ngàn năm Tổ Quốc ta bị giặc Tàu đô hộ...Một trăm năm đô hộ giặc Tây...Dù muốn dù không, người dân Việt chúng ta chịu ảnh hưởng không ít chữ viết của người Tàu, người Pháp...
       Trước khi Nước ta bị lệ thuộc Tàu, Dân tộc ta có chữ viết riêng để diễn tả tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân hay không thì cho đến giờ cũng chưa tra cứu ra...
       Nhiều sĩ phu Việt Nam, cùng với nhiều cuộc khởi nghĩa đuổi đánh quân xâm lược, tìm mọi phương cách thoát li ảnh hưởng chữ viết của người Tàu: chữ NHO!
       Từ đó, chữ NÔM ra đời...
       Chữ Nôm hình thành từ lòng ái quốc của giới sĩ phu Nước ta...
       Chữ Nôm là thứ chữ được cấu trúc như sau:  hoạc dùng nguyên một chữ Nho hoặc lấy hai, ba chữ Nho ghép lại, hoặc thêm nét hoặc bớt đi một vài nét...
       Chữ Nôm có tự bao giờ? Đó cũng là một vấn đề mà Văn Học Sử Việt Nam cho đến bây giờ cũng bó tay.com!!!Chỉ biết rằng Nguyễn Thuyên là người đầu tiên làm thơ bằng chữ Nôm vào khoảng cuối  thế kỉ XIII. (Ông người tỉnh Hải Dương, đậu Thái Học Sinh vào đời Vua Trần Thái Tôn (1225-1257) Vào mùa thu tháng tám (1282), đời Vua Trần Nhân Tôn, có con cá sấu vào Nhị Hà, Vua sai Binh bộ Thượng Thư  Nguyễn Thuyên làm một bài văn ném xuống sông, đuổi ca sấu đi, con cá sấu bên bỏ đi. Nhà Vua thấy hình  tượng của Ông giống như Hàn Dũ bên Tàu nên cho Nguyễn Thuyên đổi thành họ Hàn.
        Chữ Nôm trở thành công cụ để các sĩ phu Việt Nam, các nhà thơ, nhà văn diến đạt tâm tư, tình cảm của minh.. cho đến lúc chữ, mà ta gọi là QUỐC NGỮ, ra đời....
      Để phục vụ công cuộc đem Tin Mừng đến cho Dân Tộc Việt, các giáo sĩ  Tây Phương, mà người kiện toàn là Giáo sĩ thừa sai Alexandre de Rhodes, đã dùng chữ La Tinh để ghi âm tiếng nói của  người dân bản xứ, tức người Việt chúng ta (Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, 15/3/1591-5/11/1667, nhà truyền giáo Dòng Tên, người xứ Avignon , miền Nam nước Pháp, được an táng ở Iran)...
     Do không đủ tài liệu và không có nhiều thời gian , người viết rất tiếc không thể trình bày hết các suy nghĩ của mình về một đề tài to lớn như đã nêu.
                                                                       (còn tiếp)

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

TIẾNG NƯỚC TA PHONG PHÚ VÀ ĐA DẠNG

                                            PHẦN MỞ ĐẦU.-
          Trong các thứ tiếng trên Thế Giới, Tiếng Việt, -Tiếng Nước Ta-,phong phú và đa dạng nhất.
   -Để chỉ ngôi thứ hai,-đối tượng mà ta đang nói tới-, Tiếng Anh chỉ có một từ duy nhất là "you"...Nói với " ông bà hay cha, mẹ, anh, chị, em, hay con, cháu, bạn,...v.v..." đều gọi là..."you", một người cũng "you", ít người cũng "you"...,, kể cả khi nói với loài vật..., không kể đến giới tính của người đó hoặc con vật đó......
   -Tiếng Đức cũng duy nhất một từ "Sie" nhưng lịch thiêp hơn là chữ "Sie", viết hoa chữ "S", nhiều người cũng "Sie", ít người cũng "Sie"..., cũng không kể đến giới tính của người hoặc của con vật đó.
   -Tiếng Tàu, "nị"? (Biết, chết liền!!!)
   -Tiếng Pháp, có hai từ : số ít dùng từ "tu", số nhiều dùng từ "vous"...Từ  "vous" còn dùng để gọi người mà mình kính trọng, từ "tu" còn dùng để gọi thân mật (nghĩa là có thể gọi ông, bà hay cha mẹ bằng từ "tu"...)
   -Tiêng Nước Ta thì gọi "ông, bà" để chỉ Đấng sinh ra cha mẹ mình hay ngang hàng với ông bà của minh;  gọi "cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, cậu, thím, mợ...v.v..." hay "anh, chị, con, cháu,...", hay "mày" để gọi bạn hay gọi một con vật, tương ứng với từ "you" của Tiếng Anh hay từ "Sie" của tiếng Đức.
   Thí dụ :   với ba từ " KHÔNG", "NÓI",  "ĐƯỢC" có thể sắp xếp thanh sáu cụm từ có nghĩa khác nhau...
+Em nói vói Anh: Em có thể NÓI ĐƯỢC KHÔNG?
+Anh nói với Em:-Em KHÔNG ĐƯỢC NÓI với ai điều ấy nhé!
+Em :NÓI KHÔNG ĐƯỢC hả Anh?
+Anh:   Đúng rồi, KHÔNG NÓI ĐƯỢC.
+Em: ĐƯỢC, KHÔNG NÓI.
...

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

TẢN MẠN VỀ CỤM TỪ"XIN...CHO""

                  H. là giáo viên Toán, cũng như tôi...Có một điều khác nhau là  H. có 4 con  đều là học trò của tôi.
   Một lần, chúng tôi ngồi cạnh nhau trong một Tiệc Cưới,- Đám cưới của cháu gái của BX tôi..
   H. nói rằng Cô theo Phật Giáo nhưng thích Công Giáo...Có một điều H. không thích trong Công Giáo, lúc nào cũng "XIN, CHO"...'Xin Chúa cho Con cái này, cái nọ...."
   Tôi cười, không nói gì...Bởi vì đi góp vui một  đám cưới, không tiện tranh luận nhất là tranh luận về Tín Ngưỡng...
   Trong cuộc sống, con cái, cháu chắt, phải "XIN"" Cha Mẹ, Ông Bà "CHO"" con, "CHO" cháu cái này, cái nọ...Đúng không?
   Chánh Quyền là "đày tớ"  (tôi viết "ĐÀY") của Nhân Dân, nhưng Nhân Dân phải "XIN" "đày tớ" "CHO" mình cái này cái nọ...(Kính XIN Ông CHO tôi...mặc dù có lúc họ làm sai, thí dụ ghi nhầm tên, ghi nhầm số CMND....v.v...).Đúng không? Có một lần Lãnh Đạo Nhà Nước đề nghị bỏ cụm từ "XIN CHO" trong các đơn của người dân gởi Chánh Quyền...
   Khi chắp tay Niệm Phật, trong thâm tâm người Phật Tử nghĩ gì? Có XIN Phật ban CHO mình "Tâm Thường An Lạc" hay không?...
   Nói một cách khác, có thể tìm được một cụm từ thay cho cụm từ "XIN CHO"" được không?

  

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

KIẾN THỨC ĐỂ VIẾT

Đoc báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ra ngày 04-8-2013:
   -Trong bài "Ai sẽ cất cánh ngược gió?" :"đầu tư vào các lĩnh vực liên quan đến tiêu dùng đang GIA TỐC với TỐC ĐỘ ngày càng nhanh." của Trần Vinh Dự.
         +Gia tốc là gì? Gia tốc là độ tăng vận tốc trong 1 đơn vị thời gian, tính bằng mét/giây bình phương. Vậy "GIA TỐC với TỐC ĐỘ ngày càng nhanh" nghe thì thật kêu nhưng  vô nghĩa!!!
   -Trong bài "Một TIÊU ĐIỂM HỘI TỤ Ánh sáng..." do Hàm Châu thực hiện phỏng vấn Gs Trần Thanh Vân.
        + Ai học hết Phổ Thông cấp 3 đều biết : Trong các  thấu kính hội tụ, chùm tia sáng tới song song với trục chính của thấu kính thì các tia khúc xạ HỘI TỤ tại TIÊU ĐIỂM ảnh chính của thấu kính
   Do dó khi nói "Tiêu Điểm" thì hiểu ngầm là điểm "Hội tụ" của ánh sáng rồi..,
        Trong số các em học LTĐH với tôi trong nhiều năm trước, có một em thi Olympic môn Văn và đã đoạt được một giải khá cao. Khi phê bình một tác phẩm văn học, em đã nhập đề như sau:"Cùng với không gian hai chiều, thời gian tạo thành một không gian 3 chiều" !!!???!!!
   "THI THOẢNG" hay "THỈNH THOẢNG".
       -Từ "thỉnh" có nhiều nghĩa...Ở đây có nghĩa từ từ, chậm rãi, không nhiều, lâu lâu..
Thí dụ: thủng thỉnh, diễn tả một hành động chậm rãi, từ từ...
       -Từ "thoảng" trong cụm từ "thoang thoảng", mùi hương thoang thoảng, không nồng, khi có khi không.
    Do đó cụm từ "thỉnh thoàng"có nghĩa là lâu lâu mới có có...
   "Thi thoảng" nghĩa là gì???
Đồng ý rằng  khi ta cần thì ta gán cho sự vật một cái tên với cái nghĩa ta cần thì được thôi!!! Thí dụ như cụm tù "Phi Trường Tân Sơn Nhất" được gán bằng cụm từ "Sân bay Tân Sơn Nhất"?, sau một thời gian người ta cũng quen thôi mặc dù rất khập khễnh... với mục đích làm trong sáng Tiếng Việt. Vì sao tôi nói là "khập khễnh"? Vì từ "Sân" thường dùng để chỉ một khoảng đất trống trước hoặc sau một kiến trúc xây dựng như nhà ở, trường học, ga xe lửa...v.v...thí dụ như sân  trường, sân bóng đá, sân gôn, sân ga...Không thể dùng cụm từ "Sân xe lửa" để chỉ "Ga Hòa Hưng" hoặc " Sân Trường Lê Hồng Phong' để chỉ "Trường Lê Hồng Phong"...Nói để làm trong sáng Tiếng Việt thì xem cửa hàng bán với bảng hiệu "Cửa hàng Tiểu Ngũ Kim Loại" bán cái gì????



Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

"Tám" về Thầy và Trò thời @


Thầy là Người có quyền xử phạt học trò nếu học trò hỗn láo với Thầy, vi phạm kĩ luật, vi phạm nội quy Nhà Trường, có những hành vi phi đạo đức...v.v...Nếu Thầy có hành vi không đúng đắn như trù dập học trò, đánh đập học trò, gây stress cho học trò thì hành vi của Thầy phải được cấp cao hơn xử phạt.Trong trường hợp này, trò có bị xem là phạm lỗi không? Vì Thầy là người có quyền mà phạt sai nên Trò mới phản ứng...Trò có hành vi hỗn láo với Thầy là do Thầy sai... Trong trường hợp này, Ban GH Nhà Trường sẽ phạt xử phạt như thế nào? Thường thì Lãnh Đạo sẽ cách chức Thầy, nặng thì buộc thôi việc, nhẹ thì cảnh cáo, chuyển công tác hoặc chuyển qua dạy lớp khác...
Vấn đề đặt ra là Người Thầy có quyền phạt học trò thì Người Thầy KHÔNG ĐƯỢC SAI...

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

PHIẾM LUẬN VỀ TÌNH YÊU NAM NỮ (tiếp)



Tình yêu giữa nam nữ phát xuất từ Tâm Đầu Ý hợp hay từ sự Đối Lập về tính tình, về tư tưởng hay từ sụ đụng chạm về thể xác ?
     Người ta nói : tìm Người Yêu tức là tìm Một Nửa của mình ? Có thật vậy không ?
                -Đối với Phụ nữ : Người phụ nữ nầy bề ngoài có thể có một vẻ đẹp thùy mị, dịu dàng, sống nội tâm, khả năng có thể yêu một người...Nếu người phụ nữ này có một vẻ đẹp sắc xảo hoặc có một vẻ đẹp trời cho, làm người mẫu hoặc được bầu là người đẹp nhất trong một cuộc thi sắc đẹp nào đó (?) thì NYT nghĩ rằng họ,-những người phụ nữ đó-, khó lòng có một tình yêu chân chính hoặc đón nhận một mối chân tình nào đó...Mới được bầu là hoa hậu hay á hậu...v.v., có một người đàn ông tặng cho cô nàng một chiếc "xế hộp" cáu cạnh hoặc tặng cho một biệt thự hoặc tặng một chiếc nhẫn hột xoàn thì...a-lê, lập tức cô nàng ngã vào lòng người đàn ông này...Đâu có cần tình yêu nhỉ ? Tình yêu đối với họ chỉ là bong bóng xà-phòng mà thôi!!! Sau đó, có thể họ "được"gắn-bó với chàng ta hoặc chàng ta bỏ rơi, để lại một dấu ấn kỉ-niệm đời đời...
        Tình yêu có thể đến với một đôi nam nữ nếu họ có nhiều thời gian tiếp xúc với nhau, trao đổi với nhau về Nhân Sinh quan, về Vũ Trụ quan...Họ phát giác ra rằng họ có cùng một sỡ thích hoặc nhiều sở thích...Tình cảm mến mộ dần dần chuyển biến thành tình yêu lúc nào không biết. chỉ đến lúc xa nhau, họ thấy nhớ, thấy thương :" Anh nhớ em, anh nhớ hình, anh nhớ anh; anh nhớ em, anh nhớ lắm,Em ơi!"..Lúc này họ cảm thấy không thể sống thiếu nhau...
        

       Một người đàn ông, li dị vợ, có một cô con gái 17, 18 tuổi; một người phụ nữ đã bỏ chồng, có một câu con trai khoảng 20, 21 tuổi...Người đàn ông nầy thường liên hệ với người phụ nữ để mua vật liệu xây dựng; cũng có đôi lúc bông đùa...thế rồi họ sống chung với nhau. Hai cô cậu, con riêng của mỗi người, lúc đầu còn nặng tiếng với nhau; lần lần chàng trai thấy mẹ mình đối xử với cô con gái của "dượng' đôi khi tàn nhẫn, thế là chàng nảy sinh tình cảm, bao bọc, chở -che cô gái...và ,-dĩ nhiên thôi-, họ yêu nhau...Cha cô gái, mẹ chàng trai cực-lực phản đối...
       Một cặp vợ chồng hiếm muộn, chỉ có một người con trai, hơn mười năm sau, biết mình không thể sinh con, bèn đi xin một bé gái 3,4 tuổi về nuôi...Cô con gái nuôi dần dần trường thành...và rồi thì sao ? Người anh nuôi và cô em gái nuôi...yêu nhau!!! Cha mẹ phản đối, phản thì phản, đối thì đối, họ vẫn yêu nhau...
       Tình yêu có thể giả-dối, có thể có thủ đoạn  ? Có thể ! Nàng yêu chàng hết sức nhưng chàng lại chỉ xem nàng như một người bạn. Làm sao bây giờ ?  Nàng tìm hiểu chàng rất kỹ lưỡng, làm như cùng sở thích với chàng, luôn luôn âu yếm ngọt ngào với chàng ta...v.v. Kết quả chàng nầy nở tình cảm với nàng...Khi đón nàng về dinh, sống chung với nhau, chàng mới bật ngửa khi phát giác ra rằng chàng và nàng không có cùng sở thích : chàng thích nhạc buồn,nàng lại thích nhạc kích-động ; chàng thích xem phim các nước Tây-phuong, nàng lại thích xem phim truyện Hàn Quốc; chàng thích xem bóng đá,nàng lại thích xem "đánh boxe"...Ôi la la !
         Có người hỏi NYT rằng ; Vậy NYT đã yêu ai chưa, đã yêu lần nào chưa ?