Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

HÀN TÍN GIẢNG BINH XỨ (1)
 Bách vạn tình huy bắc độ Hà, (2)
 Yên giao địa hạ hữu trầm qua. (3) 
 Du du sự hậu nhị thiên tải,
 Đãng đãng thành biên nhất phiến sa
 Khoái ngũ vị thành cam lục lục. (4) 
 Quân tiền do tự thiện đa đa. (5) 
 Khả lân thập thế sơn hà tại, (6)
 Hậu thệ đồ diên Giáng, Quán gia. (7)
                                    
 TẠM DỊCH 
 CHỖ HÀN TÍN LUYỆN BINH 
Trăm vạn cờ xí vượt phía Bắc Hoàng Hà, 
Dưới đất ngoài Thành Yên có gươm giáo bị vùi lấp 
Việc đã qua hai nghìn năm dài 
Bên thành còn một đám đất rộng hoang vắng 
Chưa được ngang hàng Phân Khoái, cam chịu vất vả, 
Trước mặt Vua, vẫn nói càng nhiều càng hay,
Khá thương giang sơn còn được truyền mười đời 
Theo lời thề đền ơn, Giáng, Quán được hậu đãi

  CHÚ THÍCH 
(1) Hàn Tín: xem chú thích số 6 trang 38 " CÁC THI SĨ TRONG CUNG ĐÌNH NHÀ NGUYỄN " 
(2) Độ Hà: Hà tức Hoàng Hà, sông lớn ở phía Bắc Trung Quốc, phát nguyên từ Thanh Hải ( Tây Tạng ), chảy qua các tỉnh Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Đông rồi ra biển. Nước có nhiều phù sa đất vàng nên gọi là sông Hoàng ( Hoàng Hà )
(3) Yên: Nước Yên ngày xưa ở phóa Đông Bắc Trung Quốc. Thủ đô nước Yên là Yên Kinh, tức gọi là Kế Thành ( Bắc Kinh ngày nay ) 
      Hàn Tín vượt Hoàng Hà, đem đại quân đánh nước Triệu, chiếm Hình Khâu ( Hà Bắc, Trung Quốc ), dụ hàng nước Yên rồi kéo quân sang phía Đông đánh nước Tề. Yên phản. Hán Cao Tổ Lưu Bang sai Phàn Khoái đem quân diệt nước Yên.
(4) Khoái: Phàn Khoái là một dũng tướng của Lưu Bang. Thuở hàn vi, Lưu Bang, làm Đình Trưởng ở đất Bái, kết bạn với Phàn Khoái ( làm nghề bán thịt chó ), Tiêu Hà ( làm thư ký ), Tào Tham, Chu Bột,...
     Hàn Tín có lòng đố kị với Phàn Khoái
(5) Hán Cao Tổ: tên là Lưu Bang, làm Đình Trưởng đất Bái ( hay Bá Thượng ), khởi binh cùng với Tiêu Hà, Tào Tham, Chu Bột, chống bạo Tần, cùng với Hạng Võ theo phò Trần Thắng. Về sau, nhờ có Hàn Tín, diệt được Hạng Võ. Trong những lúc luận bàn quân cơ, Hán Cao Tổ Lưu Bang hỏi Hàn Tín: 
    - Như Trẫm thì có thể chỉ huy được bao nhiêu quân? 
        Hàn Tín đáp: 
    - Bệ hạ có thể chỉ huy vài vạn quân. 
        Hán Cao Tổ lại hỏi: 
    - Thế còn khanh thì chỉ huy được bao nhiêu quân? 
        Hàn Tín trả lời: 
    - Thân thì có thể chỉ huy vài trăm vạn quân. Càng nhiều càng tốt! 
        Hán Cao Tổ cười phá lên: 
    - Càng nhiều càng tốt ư? Thế sao ta lại chỉ huy được khanh? 
        Hàn Tín trả lời: 
    - Bệ hạ không có tài chỉ huy quân nhưng lại có tài chỉ huy tướng. 
  Trong lúc Hán Cao Tổ cùng quân Sở của Hạng Võ giao tranh, Hàn Tín nghe lời xúi giục của Khoái Triệt, không đem quân đến cứu làm cho Hán Cao Tổ thảm bại, Kỹ Tín hy sinh cứu Vua Hán, ép Hán Cao Tổ phong Hàn Tín làm Tề Vương, Hàn Tín mới đem binh đến hội binh. Sau khi diệt được Sở Bá Vương Hạng Võ ( Hạng Võ thất trận, phải tự tử ở bến Ô Giang ), Hàn Tín ép vua Hán phong cho mình làm Sở Vương.
   Về sau, Hàn Tín che giấu Chung Ly Muội ( một tướng tài của Sở Bá Vương Hạng Võ ) đang trốn tránh sự truy nã của Vua Hán. Hán Cao Tổ biết được, dùng mưu của Tướng Trần Bình, bắt được Hàn Tín, Lã Hậu ( Hoàng Hậu nhà Hán ) bèn xử tử Hàn Tín.
 (6) Nhà Tiền Hán hay Tây Hán, truyền được mười đời, Vương Mãng soán ngôi lập ra nhà Tần. Luu Tú diệt được Vương Mãng, lên ngôi vua là Hán Quang Vũ, lập ra Nhà Hậu Hán hay Đông Hán.
      Đến đời Vua, bị Tào Phi, con Tào Tháo đoạt ngôi, lập ra Nhà Ngụy.
      Lưu Bị, tự là Huyền Đức, lập ra Nhà Thục, cùng với Tào Tháo và Tôn Quyền ( Nhà Ngô ) chia Trung Quốc thành ba nước: Ngụy, Thục, Ngô.
 (7) Giáng Hầu là Chu Bột
       Trong các tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang, Chu Bột và Quán Anh có cuộc đời trung hậu, bình lặng nhất.

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

HOÀNG HẠC LÂU (1) 
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì? 
Do lưu tiên tích thử giang my 
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng (2) 
Hạc khứ lậu không Thôi Hạo thi
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y 
Trung tình vô hạn bằng thùy tố? 
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
  
   TẠM DỊCH 
LẦU HOÀNG HẠC 
Thần tiên ở xứ nào đã trải qua bao nhiêu thời gian? 
Còn ghi lại dấu tiên ở bờ sông này 
Nay đến xưa đi chỉ là giấc mộng của người học trò họ Lư
Hạc đi lâu trống còn bài thơ của Thôi Hạo
Khói sóng ngoài hành lang ( lan can ) vẫn mênh mang
Cây cỏ ở trước mắt vẫn như vậy
Tình cảm trong lòng vô hạn biết ngỏ cùng ai? 
Trăng sáng gió mát cũng chẳng biết

   CHÚ THÍCH 
(1) Hoàng Hạc Lâu: Lầu Hạc vàng, ở Võ Xương, thị trấn Võ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc
     Tương truyền ngày xưa tại đây, Phí Văn Huy khi thành tiên cưỡi hạc vàng bay lên trời.
     XIN GIỚI THIỆU CÁC BÀI THƠ VỊNH HOÀNG HẠC
(*) Thôi Hạo: Phủ Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc, đậu tiến sĩ năm 725, đời Đường 
      
HOÀNH HẠC LÂU 
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên dịch dịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

  TẠM DỊCH
Người xưa đã từ chỗ này cưỡi hạc vàng bay đi. Ở đây chỉ còn trơ Lầu Hoàng Hạc. Hạc vàng một đi không trở lại. Trên trời đám mây trắng vẫn bay muôn đời. Hàng cây đất Hán Dương vẫn rực rỡ bên sông lạnh Cỏ thơm tươi tốt mọc trên bãi  Anh Vũ. Trời chiều, trông về làng cũ, tự hỏi: quê nhà ở nơi đâu? Khói sáng mờ mịt trên sông làm tăng thêm nỗi ưu sầu.

 (*) Trần Trọng Kim dịch thơ: 
LẦU HOÀNG HẠC 
Người xưa cưỡi hạc đến nơi đâu? 
Hoàng Hạc còn đây một mái lầu
Hoàng hạc một đi không trở lại
Mênh mang mây trắng xóa ngàn thâu
Hán Dương sông tạnh, cây in sắc
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biến màu
Chiều tối trông vời: đâu cố quận?
Trên sông khói sóng giục ai sầu

(*) Tản Đà dịch: 
GÁC HOÀNG HẠC
  Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
  Hạc vàng đi mất từ xưa;
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
  Hán Dương sông tạnh, cây bầy
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
  Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

(*) Bản dịch của Ngô Tất Tố: 
LẦU HOÀNG HẠC 
Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu Hạc còn suông với chốn này.
Một vắng, hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm, mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngút châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối, quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầu sông khói sóng gợi niềm tây
     Khi Lý Bạch [ ( 701-762 ) Đại thi hào nhà Đường Trung Quốc, rất được Vua Đường Minh Hoàng tôn trọng ] qua viến lầu Hoàng Hạc, đọc bài thơ Thôi Hạo ( hay Thôi Hiệu ) viết trên vách, đã phóng bút viết hai câu thơ sau: 
    " Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
       Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu " 
 nghĩa là: 
      " Trước mắt có cảnh nói không được
        Vì có thơ của Thôi Hiệu ở trên đầu. " 

(*) Bản dịch của Tchya ( Đái Đức Tuấn ) 
  HOÀNG HẠC LÂU 
Người cỡi hạc vàng xưa đã vắng,
Đât này trơ gác Hạc vàng không
Hạc vàng một sớm bay bay mất  
Mây trắng ngàn thu giặc giặc lòng 
Anh Vũ bãi in hương ngọn cỏ
Hán Dương cây chiếu nắng lòng sông
Chiều tà quê quán nơi nào nhỉ? 
Khói sóng trên sông chạnh nỗi lòng
    ( Chúng ta thấy Tchya dịch từ " Hoàng Hạc " trong câu hai là " Hạc vàng " là sai vì " Hoàng Hạc " ở đây là danh từ riêng, không phải chim hạc ) 
  
(2) Lư sinh mộng: Giấc mộng của chàng thư sinh họ Lư
      Đời Đường, Lư sinh thi hỏng, ở trọ Hàm Đan, gặp một đạo sĩ hàn huyên tâm sự. Đạo sĩ cho Lư sinh mượn một cái gối kê đầu ngủ, vừa lúc chủ quán trọ nấu nồi kê. Lư sinh mộng thấy cưới con gái nhà họ Thôi, thi đỗ tiến sĩ, làm quan cao, chức trọng rồi phạm tội khi quan, bị tru di tam tộc. Giật mình thức giấc, nồi kê vừa chín.
      Điển tích này còn gọi là " Nồi kê vàng " 

(*) Câu chuyện tương tự: Giấc Hòe 
    Thuần Vu Phần nằm mơ thấy mình đi đến nước Hòe An, được tuyển làm Phò Mã, vinh hoa phú quý. Về sau, đánh giặc bại trận, vợ chết, Vua bãi chức. Tỉnh dậy, thấy mình nằm ở gốc cây hòe. 
     Cũng câu chuyện nằm mộng ở gốc cây hòe, gọi là Giấc Mộng Nam Kha. Nhân vật chính trong truyện chính là Lý Công Tá, đời Đường.

(*) Lê Qúy Đôn đi sứ Trung Hoa. Qua thành Vũ Xương, ghé thăm lầu Hoàng Hạc, chép lại bài thơ sau: 
   1. Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiên châu chữ thiên niên phương thảo. 
       Duy kiến bạch vân y cựu, cánh thủy xuy ngọc địch, lạc giang thành số điểm mai hoa. 
   2. Thân tại cửu tiêu khan, nguyệt ẩn trường giang, thiên hộc minh châu dũng xuất!
       Nhẫn không vạn lý vọng, vân phù cỏ nhạc, bán thiên ngọc xích bình lai! 
   3. Nhất thượng cao lâu, diển đương niên Giang Hán phong lưu, đa thiểu thiên thu nhân vật.
       Song trì sứ tiết, hỉ thử nhật Kinh Hành hình thắng,tung hoành vạn lý kim thang.
   4. Ấp sảng khí ư tằng tiêu, hạc ảnh phiên phiên, trường tại bạch vân thiên tế
       Bá dương xuân ư  đại địa, mai hoa phiến phiến, thời lai ngọc địch thanh trung.
   5. Phật tú thát, phủ điêu manh, họa phỏng Vương Duy, trứ sắc tả châu lan phấn điệp.
       Tống tịch dương, nghinh tố nguyệt thi truyền Thôi Hạo, đắc cử tại phương thảo tình xuyên.
       Địa khống Kinh Ngô, Tây tái lưỡng nhai hùng tỏa thược
       Thiên phù Giang Hán, trung lưu vạn lý tráng sơ hà.
  
  TẠM DỊCH
     1.-Biết đến khi nào hạc vàng trở lại, cùng nhau rót chén, tưới cỏ thơm ngoài bãi.
        Chỉ thấy mây trắng ngày cũ, ai thổi sáo ngọc, gieo mai hoa chốn giang thành.  
     2.-Mình trên chín tần trông xem, sông soi bóng trăng, khác nào ngàn hạt châu tung tóe.              
        Mắt nhìn xa muôn dặm, mây bao phủ núi như một thước ngọc lonh lanh.
     3.-Một lần lên lầu cao, tưởng như ngàn vật phong lưu vùng Giang Hán,
        Hai lần đi sứ, mứng thấy thành thắng cảnh từ đất kinh thành muôn dawmhj thẳm bao la.
     4.-Khi tốt ở tầng cao, bóng chim hạc liệng bay phấp phới, thường ở nơi mây trắng ngất lưng trời.
        Mùa xuân bao phủ mặt đất, khúc mai hoa du dương, văng vẳng từ tiến sáo vàng đưa lại.
     5.-Mở nhẹ cửa, cúi nhìn cột chạm, vẽ kiểu Vương Duy, nét bút tài tình, đẹp nét son phấn điệp
       Tiễn bóng chiều, đón trăng tỏ, thơ đề Thôi Hiệu ( Hạo ), thơ thần thích thú, là câu sông tạnh khóm cỏ thơm.
  • Đất Kinh Ngô, phương Tây hai đồi cao, vững bền then khóa.
        Trời phủ Giang Hán, giữa dòng muôn dặm chảy tăng vẻ non sông.

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỘ HOÀI HỮU CẢM VĂN THỪA TƯỚNG (1)


Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên , 
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền .
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ , (2)
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên ? (3)

Ai trung xúc xứ minh kim thạch , 
Oán huyết qui thì hóa đổ quyên (4)
Nam Bắc chỉ kim vô dị tục , 
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền .

Tạm dịch :
QUA SÔNG HOÀI CẢM NHỚ VĂN THỪA TƯỚNG

Phong cảnh núi sông vẫn cứ như thế , 
Tấm lòng cô trung của Thừa Tướng lưu truyền muôn đời .
Một phen qua khỏi sông Hoài không phải là đất cũ nữa 
Biết đến năm nào trở lại Giang Tả ?
Lòng đau thương gặp cảnh nào cũng nói lên lời đá vàng , 
Huyết hận trở về hóa thành chim Đỗ Quyên .
Phong tục Nam Bắc đến nay không khác nhau , 
Thuyền qua lại trong bóng chiều buồn vô hạn 


Chú thích :
(1) Văn Thừa Tướng : Tên thật là Văn Thiên Tường ( 1236-1282 sau Công Nguyên ) hiệu là Vân Sơn , đời Nhà Tống ( Trung Hoa )
      Sau khi Nhạc Phi bị Tần Cối mưu hại , quân Nguyên vượt sông , tiến quân về phương Nam diệt Nhà Nam Tống , Văn Thiên Tường khởi binh chống giặc , được phong là Hữu Thừa Tướng . Thất trận , bị bắt giam ở Yên Kinh bốn năm , bị giết vì không chịu đầu hảng
     Ông sáng tác bài " Chính Khí Ca " nói lên nỗi lòng trung quân , ái quốc của mình .
" Tàng kim biệt khước Giang Nam lộ 
Hóa tác đề quyên đới huyết qui "

Tạm dịch :
" Từ nay cách biệt đường đi Giang Nam 
Sẽ hóa thành Đỗ Quyên kêu ra máu trở về "

(2) Hoài Hà : Xem chú thích (1) bài " Độ Hoài Hữu Cảm Hoài Âm Hầu Tác " , là ranh giới giữa Nhà Nam Tống là Tống Cao Tông Triệu Cấu , ký hòa ước với quân Kim , chia hai Trung Quốc : Phía Nam sông Hoài thuộc Nhà Tống , phía Bắc nhượng cho Kim 
(3) Giang Tả : Vùng đất Giang Đông , hạ du Trường Giang , thuộc tỉnh Giang Tô ( thời Tam Quốc , Tôn Quyền lập nước Ngô .) Là miền đất còn lại của Nhà Nam Tống 
(4) Đỗ Quyên : Xem hình tượng chim Đỗ Quyên trong" Văn Học Cổ Điển Việt Nam " trang 225 cuốn  " Tìm Hiểu Văn Học Cổ Điển Việt Nam Thế Kỷ XIX Phần II "

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX


ĐỒNG TƯỚC ĐÀI  (1)

Nhất thế chi hùng an tại tai ?
Cổ nhân khứ hề kim nhân lai .
Bất kiến Nghiệp trung (2) Ngụy Võ Đế (3)
Đãn kiến giang biên Đồng Tước Đài . 
 
Đài cơ tuy tại dĩ khuynh dĩ , 
Âm phong nộ hào thu thảo my 
Ngọc Long Kim Phụng tận mang mang (4)
Hà huống đài  trung ca vũ kỹ !

Tri nhân thịnh thì thùy cảm dương , 
Diểu thị Hoàng đế lăng hầu vương 
Chỉ hận tằng đài không ngột ngột , 
Tiểu Kiều (5) chung lão giá Chu Lang (6)

Nhất tiêu đại hạn hữu thì chí , 
Thượng thực tấu ca đồ duyệt qủi .
Phân hương mại lý khổ đinh ninh (7)
Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ !

Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm , (8)
Bất thị minh ai nhi nữ khí . 
Thiên cơ vạn xảo tận thành không ,
Chung cổ thương tâm Chương Giang thủy (9)

Ngã tư cổ nhân thương ngã tình , 
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh 
Như thử anh hùng thả như thử , 
Huống hồ thốn công dữ bạc danh 

Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại , 
Thử địa cao đài ưng vị khuynh 

Tạm dịch :

ĐÀI ĐỒNG TƯỚC

Người hùng một thời đang ở đâu ?
Người xưa đi , (hề ) , người đời nay lại 
Không thấy Ngụy Võ Đế trong Nghiệp Thành , 
Chỉ nhìn thấy Đài Đồng Tước ở bên sông .

Nền đài tuy còn nhưng đã nghiêng lở , 
Gió âm gào giận , cỏ thu xơ xác .
Điện Ngọc Long , Kim Phụng tất cả đều mông lung , 
Huống hồ các ca vũ trong đài 

Người này lúc thịnh không ai dám dụng đến 
Khinh thường Nhà Vua , làm nhục các vương hầu  
Chỉ tiếc đài cao vòi vọi trở thành uổng phí 
Tiểu Kiều đến già cũng là vợ của Chu lang 

Một buổi mai hạn lớn có lúc vẫn đến , 
Dâng đồ ăn diễn ca nhạc làm vui hồn ma .
Khổ tâm dặn dò chia hương và bán giày 
Trượng phu đường hoàng sao lại thế ?
Phân hai mai lý khổ đinh ninh ?

Kẻ gian hùng tự có tâm cơ riêng 
Không phải kêu thương như tính khí đàn bà 
Nghìn khôn vạn khéo cũng thành không , 
Nỗi thương tâm từ ngàn xưa như nước sông Chương chảy .

Nghĩ đến người xưa mà xót thương phận ta .
Bồi hồi cúi ngửa trông trời đất buồn cho kiếp sống nổi trôi 
Anh hùng như vậy mà vẫn vậy 
Huống hồ kẻ chỉ có một công mọn và danh mỏng .
Nếu nghiệp lớn ở nhân gian mà còn mãi mãi 
Thì đài cao ở đất này không bị nghiêng lở

Chú thích :
(1) Đồng Tước Đài : Là tên của một cái đài .
      Cuối đời Hán , Đông Hán , nước Tàu chia ba , gọi là thế chân vạc , gồm Ngụy , Thục , Ngô .
      Nước Ngụy có vua , dòng dõi Lưu Bang , không có thực quyền , quyền hành trong tay Tào Tháo ( Tào Mạnh Đức , bị gọi là Tào A Man ) ; Nước Thục do Lưu Bị làm vua , có Khổng Minh Gia Cát Lượng phụ tá ; Nước Ngô do Tôn Quyền làm vua , có Chu Du ( hoặc Châu Du hoặc Châu Do , Chu Do ) còn gọi là Chu Công Cẩn
      Tào Tháo cho xây một cái đài gọi là đài Đồng Tước trên bờ Chương Giang ( tỉnh Hồ Nam , Trung Quốc )
       Ngày khánh thành , Tào Thực ( Tào Tư Kiến ) , con trai thứ của Tào Tháo , có tài văn chương , đã sáng tác một bài phú vịnh đài Đồng Tước , trong bài có hai câu :
" Liên nhị kiều ư đông tây hề , 
Nhược trường không chi nhuế đống "
(Bắc liền đông tây hai cầu nổi lên như cầu vồng giữa lưng trời  )

       Tào Tháo đem đại quân đánh Ngô . Nếu Ngô thua hoặc đầu hàng Ngụy thì Thục cũng sẽ bị thôn tính nên Khổng Minh sang Ngô , khích vua tôi Tôn Quyền và Chu Du , bằng cách sửa hai câu trong bài phú vịnh Đồng Tước Đài của Tào Tháo thành hai câu :

" Lãm Nhị Kiều ư Đông Nam hề , 
Lạc triều tịch chi dữ cộng "
( Bắt hai nàng Kiều ở Giang Nam về để sớm tối chung vui )
        
        Chu Du vô cùng tức giận vì Nhị Kiều là Đại Kiều - vợ Tôn Sách , chị dâu của Tôn Quyền và Tiểu Kiều chính là vợ của Chu Du 
        Liên quân Thục Ngô đánh tan 80 vạn quân Tào ở sông Xích Bích bằng một trận hỏa công ánh lửa rực trời .

        Truyện Kiều có câu ( câu 156 )
         " Một nền Đồng Tước khóa xuân Hai Kiều "
         Nguyễn Du dịch câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Xích Bích Hoài Cổ :
" Đồng Tước xuân thâm tỏa Nhị Kiều "

(2) Nghiệp : Nghiệp Thành , là nơi Tào Tháo đóng đô ( tên một thành cổ thuộc tỉnh Hà Nam , Trung Quốc )
(3) Ngụy Võ Đế : Con trưởng của Tào Tháo là Tào Phi , cướp ngôi Nhà Hán , làm Vua nước Ngụy , xưng hiệu Văn Đế , truy tôn Cha ( Tào Tháo ) làm Ngụy Võ Đế
(4) Ngọc Long , Kim Phụng : Tên hai tòa lầu ở hai bên Đài Đồng Tước
(5) Tiểu Kiều : Là vợ của Chu Du 
(6) Chu Lang : Tức Chu Du 
(7) Trước khi qua đời , Tào Tháo dặn dò vợ và các người thiếp : Dư Hương khả phân , dữ chư Phu Nhân , chư xá trung , vô sở vi , học tác lí tố mại dã " .( Những vật có hương thơm còn thừa thì chia cho các phu nhân , các người thiếp không có việc làm thì hãy học đan giày dép để bán )
(8) Gian hùng : Người đời sau cho rằng Tào Tháo không phải là anh hùng như ông ta tự khoe khi nói chuyện với Lưu Bị , mà là một tay gian hùng , lấn át quyền Vua .
(9) Chương Giang : một con sông chảy qua tỉnh Hà Nam , Trung Quốc . Mộ của Tào Tháo ở ven sông .