Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỘ HOÀI  (1) HỮU CẢM HOÀI ÂM HẦU (2) TÁC

Tầm thường nhất phạn báo thiên câm ( kim )  (3)
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm 
Thôi thực giải y nan bội đức ,    (4)
Tàng cung phanh cẩu diệc cam tâm (5)
Bách Man Khê động lưu miêu duệ (6)
Lưỡng Hán sơn hà biến cố câm ( kim ) 
Trù trướng giang đầu tư vãng sự , 
Đoạn vân suy thảo mãn Hoài Âm .

Tạm dịch : 

QUA SÔNG HOÀI CẢM NHỚ HOÀI ÂM HẦU MÀ SÁNG TÁC

Một bữa cơm thường mà báo đáp nghìn vàng , 
Nghĩa vua tôi trong năm năm rất sâu sắc 
Không quên được cái công đức nhường cơm sẻ áo 
Dù cất cung mổ chó cũng cam lòng 
Còn để lại các con cháu trong các khe động các bộ tộc Man di 
 Giang sơn hai nhà Hán đã thay đổi .  
Đầu sông đau xót nhớ lại chuyện xưa , 
Mây đứt cỏ tàn đầy Hoài Âm .

Chú thích :
(1) Độ Hoài : Qua sông Hoài ( Hoài Hà ) . Sông Hoài thuộc phần đất các tỉnh An Huy và Giang Tô 
        (2) Hoài Âm Hầu : ( Xem chú thích số 6 trang 38 " Các Thi sĩ trong Cung Đình Nhà Nguyễn của tác giả Võ Đại Mau )
        (3) Hàn Tín báo ân " Xiếu mẫu " ngày xưa đã cho Hàn Tín một bữa cơm lúc Hàn Tín còn thất thế , phải đi xin ăn 
        (4) Lúc đắc thế , Hàn Tín không quên cái ân nghĩa nhường cơm sẻ áo của vua Hán Cao Tổ Lưu Bang 
       (5) Ý của Nguyễn Du là : sau khi bình định Đất Nước , vua Hán giết hại các công thần trong đó có Hàn Tín .
       (6) Man Khê : Chỉ nơi các dân tộc kém văn minh sinh sống .
             Chinh Phụ Ngâm có câu :
             " Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện "
             Bà Đoàn dịch :
             " Tới Man Khê bàn sự Phục Ba " 
       (7)  Lưỡng Hán : Tây Hán ( Lưu Bang ) và Đông Hán ( Lưu Tú )



NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐỒ TRUNG NGẪU HỨNG

Sơn hạ kiều tùng , tùng hạ phần , 
Luy luy đô thị cổ thi nhân 
 Tự do tự tại bất tri tử
Hoa lạc hoa khai vô hạn xuân 
 Phục lạp tử tôn không lỗi tửu , 
Thế gian phú quí đẳng phù vân 
 Bách niên đáo để giai như thị , 
Hồi thủ mang mang nhất phiến trần .

Tạm dịch :

NGẪU HỨNG GIỮA ĐƯỜNG 

Dưới núi cây tùng cao , dưới cây tùng là mộ , 
Ngổn ngang là người xưa 
Tự do tự tại không biết chết 
Hoa rụng hoa nở vô hạn mùa xuân 
Giỗ chạp con cháu rưới rượu mãi , 
Giàu sang thế gian như mây trôi 
Trăm năm rốt cuộc đều như vậy 
Quay đầu nhìn lại man mác chỉ là một đám bụi .



NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU   (1)
      
Nguy lâu trĩ cao ngạn ,
Đăng lâm hà tráng tai !
        Phù vân Tam Sở tận ,  (2)   
Thu thủy Cửu Giang lai (3
Vãng sự truyền tam túy (4)
Cố hương không nhất nhai 
Tây phong ỷ cô hạm, 
Hồng nhạn hữu dư ai (5)

 Tạm dịch :

LÊN LẦU NHẠC DƯƠNG 

Lầu ngất đứng bờ cao 
Lên nhìn lớn đẹp thay !
Mây bao phủ đất Tam Sở , 
Nước thu đến từ Cửu Giang 
Việc xưa truyền lại có người say ba lần 
Nhìn về quê nhà một khoảng chân trời trống không 
Trước gió Tây dựa lan can một mình , 
Nghe có tiếng kêu bi ai của chim Hồng , chim Nhạn 

Chú thích :

 (1) Nhạc Dương lâu : Lầu Nhạc Dương , nằm ở cửa Tây thành huyện Nhạc Dương thuộc tình Hồ Nam ( Trung Quốc ) là một danh thắng , nơi hò hẹn của các tao nhân mặc khách , do Trương Duyệt đời Đường xây dựng 
      Lầu Nhạc Dương nhìn ra Động Đình Hồ , tám trăm dặm vuông, gọi là Bát Bách Lý Động Đình, là một hồ nước ngọt lớn, xưa là hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc, bây giờ, một số bị phù sa, xếp sau hồ Bà Dương. Hồ Động Đình nằm về phía Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, là hồ điều hoa sông Dương Tử, gồm các hò sau tạo thành: Đông Động Đình, Vạn Tử., Mục bình, Đại Thông, Hoàng Lĩnh Lộc, diện tích bề mặt  khoảng 2 820km vuông, mùa lũ khoảng 20 000 km vuông, do 4 sông dổ nước vào : sông Tương, sông Tư, sông Nguyên và sông Tiêu đỏ nước vào sông Tương, gần Trường Sa.
      Hồ Động Đình là một danh thắng gắn liền với Lầu Nhạc Dương 
 (2) Tam Sở : 3 nước Sở : Đông Sở , Tây Sở và Nam Sở , thuộc nước Sở cũ ( vùng đất thuộc các tỉnh ngày nay : Hồ Nam , Hồ Bắc , và Chiết Giang ) 
(3) Cửu Giang : Là  9 sông(???) chảy vào hồ Động Đình như sông Dương Tử , sông Nguyên , sông Tương ...
(4) Tam túy : 3 lần say 
     Lữ Nham tự Đồng Tân , hiệu là Thuần Dương , một trong Bát Tiên , khi thăm lầu Nhạc Dương , hạ bút viết : 
     " Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức , 
        Lãng ngâm phi quá Động Đình Hồ "
Tạm dịch : 
      " Ba lần say ở lầu Nhạc Dương không ai biết ,
         Hát vang bay qua hồ Động Đình "
(3) Hồng nhạn : chim Hồng , chim Nhạn
( Xin xem Nghiên cứu Văn Học Cổ Điển  đầu thế kỷ XIX : " Các Thi sĩ trong Cung Đình Nhà Nguyễn " của tác giả Võ Đại Mau  trang 177-178-179-180)

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

               DỰ NHƯỢNG KIỀU        (1)
   Dự Nhượng nặc thân thích Tương Tử (2)
   Thử địa nhân danh Dự Nhượng Kiều .
   Dự Nhượng ký sát Triệu diệc diệt  (3)
   Kiều biên thu thảo không tiêu tiêu .
   Quân thần chính luận kham thiên cổ
   Thiên địa toàn kinh tận nhất tiêu .
   Quân thần chính luận kham thiên cổ , 
   Thiên địa toàn kinh tận nhất triêu
   Lẫm liệt hàn phong đông nhật bạc ,
   Gian hùng quá thử thượng hồn tiêu.

Tạm dịch :

               CẦU DỰ NHƯỢNG

   Dự Nhượng nép mình giết Tương Tử .
   Vì vậy đất này được gọi là cầu Dự Nhượng.
   Dự Nhượng bị giết, nước Triệu bị diệt
   Cỏ thu bên cầu trông tiêu điều xơ xác
   Lời bàn nghĩa vua tôi đúng muôn thuở,
   Đạo trời đất làm tròn trong một buổi sớm
   Gió lạnh rét mướt mưa đông lợt lạt ,
   Gian hùng qua đất này còn mất hồn .

Chú thích
  (1) ,(2) Dự Nhượng : người nước Tấn thời Xuân Thu
   Dự Nhượng thờ hai họ Phạm và Trưng Hoàng , không được thương mến và trọng dụng
   Trí Bá diệt Phạm và Trung Hoàng , Dự Nhượng theo Trí Ba,được quí mến và biệt đãi . Trí Bá bị Triệu Tương Tử hợp quân với Hàn Ngụy tiêu diệt
   Dự Nhượng rấp tâm giết Tương Tử để trả thù cho Trí Bá
   Dự Nhượng bỏ gia đình trốn vào núi thay đổi họ tên , làm khổ dịch lau chùi cầu tiêu cho Tương Tử . Dự Nhượng giấu trong người một thanh trủy thủ đã bị Tương Tử bắt được . Cho Dự Nhượng là người hiền có nghĩa khí , Tương Tử thả cho đi .
   Để tránh bị phát hiện , Dự Nhượng tự sơn mình giả làm bị phong cùi , nuốt than hồng cho giọng khàn khàn rồi giả dạng bị câm , sống lăn lộn giữa chợ đến nỗi người vợ cũng không nhận ra
   Một hôm , Dự Nhượng nấp dưới cầu đợi Tương Tử đi qua rồi nhảy lên ám sát . Khi sắp lên cầu , ngựa chở Tương Tử bỗng dưng lại cất vó hí vang , Tương Tử nghi là Dự Nhượng nấp dưới cầu , cho quân sĩ lục soát , quả nhiên bắt được Dự Nhượng
   Tương Tử quở trách Dự Nhượng :
   -Nhà ngươi đã từng theo họ Phạm và họ Trung Hàng . Trí Bá diệt họ sao nhà ngươi không  diệt Trí Bá để trả thù cho họ mà lại còn theo hầu Trí Bá ? Nay Trí Bá đã chết rồi , sao ngươi một mình vì Trí Bá mà đi trả thù một cách sâu sắc vậy ?
    Dự Nhượng trả lời :
  -Tôi theo hầu họ Phạm và họ Trung Hàng , hai họ đó xem tôi là hạng tầm thường nên tôi đối đãi theo lẽ tầm thường . Ngài Trí Bá biệt đãi tôi nên tôi báo đáp theo lẽ đặc biệt .
    Tương Tử nói :
   -Nhà ngươi vì Trí Bá mà không tiếc tình cảm gia đình và mạng sống của mình , tìm mọi cách để trả thù cho chủ , ngươi thật là người có nghĩa khí ! Quả nhân đã từng tha mạng cho ngươi mà ngươi vẫn không tỉnh ngộ . Bây giờ quả nhân không thể tha cho nhà ngươi nữa . Dự Nhượng, nhà ngươi hãy tự xử đi .
    Dự Nhượng xin Tương Tử cho phép đâm vào áo của Tương Tử rồi chết cũng cam lòng .
    Tương Tử thuận cho , cởi áo khoác ngoài sai quân sĩ đưa cho Dự Nhượng
    Dự Nhượng đâm trủy thủ vào áo khoác của Tương Tử ba lần , vừa làm vừa kêu :
   -Ta đã trả thù được cho Trí Bá rồi ! Rồi đâm cổ tự tử .
    Tương Tử cho quân đem xác Dự Nhượng về nhà cho vợ con chôn cất .
    Từ đó cây cầu này được gọi là cầu Dự Nhượng
   (3)  Triệu : Nước Tấn bị diệt , phân chia thành ba nước : Triệu , Hàn , Ngụy gọi là Tam Tấn . Về sau các nước này đều bị Tần diệt
     Triệu ở đây ám chỉ nước Triệu của Tương Tử


Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

DƯƠNG PHI CỐ LÝ   (1)

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh ,
Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh
Tự thi cử triều không lập trượng   (2)
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành   (3)
Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến   (4)
Mịch mịch Tây giao khâu lũng bình   (5)
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ ,
Đông phong thành hạ bất thăng tình

QUÊ CŨ CỦA DƯƠNG PHI

Vùng núi cây hoa cỏ vắng tanh
Lời truyền ấy nơi sinh Dương Quý Phi
Từ xưa triều đình không lập tượng
Phải chăng gán tội sắc khuynh thành
Phía nam cỏ bồng cao che khuất
Mặt tây bình thảo mọc um tùm
Cỏ hoa bừa bãi che tầm mắt
Đông phong thành hạ bất thăng tình

Chú thích :
(1)Dương Phi :tức Dương Quý Phi , tên là Dương Ngọc Hoàn,  đạo hiệu Thái Chân ở Hoàng Nông , Hoa Âm thuộc tỉnh Thiểm Tây ( Trung Quốc ) , được vua Đường Minh Hoàng phong làm Quý Phi sau tư thông với An Lộc Sơn , con nuôi Đường Minh Hoàng . An Lộc Sơn làm phản , Vua Đường đem Dương Quý Phi sơ tán . Quân lính đòi Vua phải giết Dương Phi họ mới chịu đánh giặc . Bất đắc dĩ , vua Đường phải để Dương Phi treo cổ dưới cây liễu ở gò Mã Ngôi thuộc huyện Hưng Bình tỉnh Thiểm Tây .
Nguyên Đường Minh Hoàng đêm trung thu thưởng nguyệt , nằm mộng thấy mình lên cung trăng , được Hằng Nga tiếp đãi , các tiên nữ trình diễn một màn múa rất đẹp mắt . Tỉnh dậy , Nhà Vua sáng tác một điệu múa gọi là " Nghê Thường Vũ Y "
Từ " Nghê Thường " được dùng để chỉ một người con gái đẹp " Nghê Thường " trong trăng là Hằng Nga
     " Cung Oán Ngâm Khúc " có câu :
     " Dẫu mà tay múa , miệng  xang,
       Thiên tiên cũng ngảnh Nghê Thường trong trăng "
       Trong " Bích Câu Kỳ Ngộ "
      "Đong đưa khoe thắm đua vàng ,
       Vũ y thấp thoáng , Nghê Thường thiết tha "
Có người cho rằng chữ " vũ " trong " vũ y " là lông chim ...
Theo tôi nghĩ , chữ " vũ " này có nghĩa là " múa ". "Vũ y" là " múa áo " , các tiên nữ áo quần tha thướt , hai tay cẩm hai vạt áo mà múa lên , như cánh bướm chập chờn , khoe đủ màu sắc ...

Đại Thi hào Bạch Cư Dị ( 772-846) cảm thương tình yêu của vua Đường Minh Hoàng với Dương Phi , đã sáng tác " Trường Hận Ca " ghi lại mối tình vương giả
      "Thánh chủ triêu triêu mộ mộ tình ,
       Hành cung kiến nguyệt thương tâm sắc ...
       Mã Ngôi pha hạ mê thổ trung ,
       Bất kiến ngọc nhan không tử xứ .
       Quân thần tương cố tận chiêm y "
(2)Những con ngựa được tập luyện đứng yên là phi vệ đón rước Vua . Con ngựa nào hí lên môt tiếng là bị đưa ra ngoài . Ám chỉ các quan đã không dám lên tiếng can gián Vua nhận An Lộc Sơn làm con nuôi mới xảy ra cớ sự .
(3) Khuynh thành : làm nghiêng đổ thành trì , ý nói sắc đẹp của gian nhân làm cho mất nước .
                             "Nhất tiếu khuynh thành
                              Tái cố khuynh quốc "
(4)Nam Nội :tức Hưng Khánh Cung , chổ ở của Đường Minh Hoàng và Dương Phi ở Kinh đô Trường An
(5)Tây Giao :cánh đồng phía Tây . Gò Mã Ngôi ở phía Tây Trường An .( Mã Ngôi là tên người , thời Tấn đã xây một cái thành ở miền đất này để đáng nhau , về sau miền đất này được gọi là Mã Ngôi
Mã Ngôi thuộc huyện Hưng Bình , tỉnh Sơn Tây , Trung Quốc , nay là thị trấn Mã Ngôi )

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

Á PHỤ MỘ   (1)
Nhãn khan Bá thượng ngũ vân phù   (2)
Cấp cấp phương đồ nhất kích mưu   (3)
Đãn đắc thử tâm vô phụ Sở   (4)
Bất tri thiên mệnh dĩ quy lưu   (5)
Bá đồ dẫn diệt thiên niên hậu ,
Cổ mộ hoang lương tam xích thu .
Đa thiểu nhất tâm trung Sở sự ,
Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu .   (6)

Tạm dịch
MỘ Á PHỤ
Mắt thấy mây năm màu nổi đất Bá Thượng
Còn bày mưu đánh một trận vào kẻ thù .
Chỉ một lòng không phụ Sở,
Không biết mệnh trời đã về họ Lưu
Mưu đồ bá nghiệp tiêu mất nghìn năm sau ,
Mồ xưa lạnh lẽo dưới ba thước cỏ thu
Nhiều ít một lòng trung với Sở ,
Thường bị người đời cười là ngu .

MỒ Á PHỤ
Chòm mây năm sắc vờn trên đê
Ngôi mồ ẩn hiện một vùng riêng
Lòng người nằm đó không phụ Sở
Biết kêu trời định phải về Lưu
Nghìn năm nghiệp bá còn ghi vết
Mộ cổ hoang lương dưới trời thu
Nhiều ít tấc lòng trung với Sở
Ngại lời thiên hạ trích người ngu

Chú thích :
(1)Á Phụ : Chú , tức là Phạm Tăng , học rộng tài cao . Tần Thủy Hoàng tàn bạo , khắp nơi nổi dậy . Có hai lực lượng mạnh nhất là Hạng Võ và Lưu Bang
     Bảy mươi tuổi , Phạm Tăng ra giúp Hạng Võ , được tôn là Á Phụ , khuyên Hạng Võ giết Lưu Bang nhiều lần nhưng Hạng Võ không nghe . Trúng kế chia rẽ của mưu thần Lưu Bang, Hạng Võ tước binh quyền Phạm Tăng và đuổi đi . Về đến Bành Thành , Phạm Tăng bị ung nhọt mà chết
(2)Bá Thượng ngũ vân ph:
     Phạm Tăng thấy mây năm màu nổi trên đất Bá Thượng ( Đất Bái , phía đông Trường An tỉnh Thiểm Tây ) .Lưu Bang nguyên là đình trưởng ở đây . Cùng với các bạn Phàn Khoái , Tiêu Hà , Tào Tham , Chu Bột,..., Lưu Bang khởi nghĩa chống bạo Tần . Phạm Tăng theo giúp Hạng Võ , bày mưu, tôn một người cháu của Vua nước Sở lên làm Sở Hoài Vương .Sở Hoài Vương qui định rằng " Ai vào Quan Trung ( kinh đô nước Tần ) trước nhất , sẽ làm Vua "
Quân Sở ( Quân Hạng Võ ) mạnh hơn ,lại có Phạm Tăng nhưng đi đến đâu thì giết đến đó , làm cho quân Tần và dân mỗi thành liều chết chống lại nên vào Quan Trung sau quân Hán ( Lưu Bang )
     Lưu Bang lấy nhân nghĩa làm đầu ,trước khi đánh mỗi thành quân Tần trấn giữ , đều gởi thư khuyến dụ . Chiếm được thành thì ra nghiêm lệnh cấm hạch sách , quấy nhiễu dân nên được lòng quân dân Tần , vào Quan Trung sớm hơn quân Sở
     Phạm Tăng thấy mây năm màu nổi trên đất Bái , đã biết rằng cơ đồ sẽ thuộc về Lưu Bang
(3) Nhất kích mưu : Hạng Võ nhất quyết không nhường Lưu Bang . Biết mình yếu nên Lưu Bang khiêm tốn xin vào đất Ba Thục (Tứ Xuyên ) nhưng Phạm Tăng vẫn quyết giết Lưu Bang . Trong buổi tiệc Hồng Môn , Phạm Tăng sai Hạng Trang múa kiếm để giết Lưu Bang nhưng không thành . Về sau , Lưu Bang từ đất Thục , đem quân tiến ra đánh và thắng Hạng Võ , Hạng Võ phải tự tử tại bến Ô Giang .
(4)Sở Bá Vương: Hạng Võ lên ngôi Vua , lập ra nước Sở . Hạng Võ được gọi là Sở Bá Vương
(5) Lưu : là Lưu Bang
    Lưu Bang đánh thắng Hạng Võ , lập ra nhà Hán :Tây Hán Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán . Lưu Tú diệt Vương Mãng , lập ra nhà Đông Hán .
    Nguyễn Du đem từ " Lưu " để đối với từ " Sở " là không chuẩn : một bên là họ của người , một bên là tên của một nước nhưng từ " Hán " cùng thanh trắc với từ " Sở "...
(6)Đời sau cho Phạm Tăng là " ngu trung "
    Phạm Tăng trên thông thiên văn , dưới thông địa lý , đã biết " chân mệnh thiên tử " là Lưu Bang rồi mà vẫn còn ngoan cố , ra sức trung thành với Hạng Võ , bày mưu tính kế giết cho được Lưu Bang
    Người ta nói :" Mưu sự tại nhân , thành sự tại thiên " . Phạm Tăng cho rằng :" Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều " nhưng rồi không vượt qua được " Thiên mệnh " , chết trong cô đơn và uất hận

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN ĐẦU THẾ KỶ XIX

NGUYỄN DU VÀ BẮC HÀNH TẠP LỤC

Ngày 6 tháng 2 năm 1813 ( Quý Dậu ) , Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Đại học sĩ và cầm đầu Sứ Bộ sang Tàu
Lộ Trình của Sứ Bộ gồm 3 giai đoạn
          1.Giai đoạn thứ nhất : Từ Thăng Long thành đến Nam Quan
          2.Giai đoạn thứ hai : Qua khu vực cũ của nước Sở đến Yên Kinh, Kinh đô của Nhà Thanh , theo sông Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây , thăm di tích Triệu Đà , qua Thương Ngô , Tam Sở , thăm mộ hai bà Nữ Anh và Nga Hoàng ở núi Cửu Nghi ( hai bà vợ của Đế Thuấn )
Ngày 18 tháng 7 năm 1813 , qua Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam ( đừng lầm với quần đảo Trường Sa của Việt Nam ) , thăm di tích Khuất Nguyên ( sông Mịch La )- Nhớ Giả Nghị
Đến Hành Dương thăm mộ Đỗ Phủ ( thi sĩ đời Đường ), đi Nhạc Dương , thăm Hoàng Hạc Lâu .
Vào Hàn Dương , qua Cốc Khẩu đến thành Tín Dương , qua sông Hoài thuộc địa phận An Huy ( tỉnh Giang Tô ), nhớ đại công thần Nhà Tây Hán Hàn Tín - Văn Thiên Tường Nhà Tống
Đến Hứa Đô , thăm mộ Âu Dương Tu , vượt Hoàng Hà , đến Nghiệp Thành có 72 ngôi mộ của Tào Tháo
Đến Hàm Đan ( Kinh đô nước Triệu thời Thất Quốc ) thuộc tỉnh Hà Bắc . Nhớ Lạn Tương Như - mộ Liêm Pha ( hai văn thần võ tướng của nước Triệu ),  đình Tô Tần ( Tấn Dương Sơn Tây ) nhớ Dự Nhượng -Kinh Kha -đền Đế Nghiêu - mộ Lưu Linh.
Đến Yên Kinh ( Bắc Kinh )
          3.Giai đoạn thứ 3 : Từ Yên Kinh về nước qua ngã Hải Nam
Từ Sơn Đông - An Huy - Hà Bắc - Quãng Tây , thăm quê Khổng Tử , Mạnh Tử - đài Quản Trọng ( Tướng Quốc nước Tề cũ , thời Đông Châu ) Kê Khang - mộ Liễu Hạ Huệ - Phạm Tăng ( Mưu thần của Hạng Võ )- Hạng Võ
Tháng chạp năm Quý Dậu theo đường sông về nước : 29 tháng 3 năm 1814 ( Giáp Tuất)
 Trên đường đi sứ , Nguyễn Du cũng chứng kiến cảnh dân chúng Trung Quốc lầm than cơ cực , người nghèo đói đầy dẫy khắp nơi :
          " Hữu phụ huề tam nhi
          Tương tương tọa đạo bàng
          ...
          Lệ lưu khâm lang lang
          Quần nhi thả hỉ tiếu
          Bất tri mẫu tâm thương
          Mẫu tâm thương như hà !"
                                (Sở Kiến Hành )
Nguyễn Du ra đi với một tâm trạng buồn đau , chua xót : bạn đồng liêu kì thị , bạn cũ chê cười :
          " Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
          Hồng sơn , sơn hạ Quế Giang thâm "
Tạm dịch :
          "Ta có tâm sự chẳng biết ngõ cùng ai
          Có chăng chỉ có Quế Giang sâu thẳm Hồng Lĩnh mà thôi "
Tuy cõi lòng tan nát nhưng Nguyễn Du vẫn làm tròn trách nhiệm mà Nhà Vua ( Vua Gia Long ) đã giao phó chơ Sứ Bộ , trong cương vị là người Chánh Sứ , cầm đầu Sứ Bộ .