Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

VĂN HỌC LÃNG MẠN Ở NƯỚC NGOÀI

VÀI NÉT VỀ CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Chúng ta hãy điểm sơ qua một vài nét của Chủ nghĩa lãng mạn trong Văn học nước ngoài ở Thế kỷ 19. Khuynh hướng lãng mạn ra đời là để chống đối với phái cổ điển, là một cuộc cách mạng toàn diện trong nhận thức, trong giao cảm, trong suy tư va sáng tác. Một cái nhìn mới về cuộc sống, về văn học, về nghệ thuật. Họ, những người theo khuynh hướng lãng mạn, thay thế những trật tự, những cách điệu, sự quân bình của khuynh hướng cổ điển bawmgf những cái, những điều phóng túng , vô trật tự, thiếu quân bình trong cuộc sông. Họ nghiêng về bản ngã, thiên nhiên và Thượng Đế, khoác vào tâm hồn một mối sầu vạn cổ; họ thích trở về với quá khứ, gần gũi với thiên nhiên một cách gần như là quá đáng; họ xúc động một cách mãnh liệt và dễ dàng trước một sự kiện, một hiện tượng nào đó mà tính chất bi thảm không phải là trầm trọng lắm: Cảnh đại dương, buổi chiều tím, đem thu...v.v... Trong những nguyên nhân chủ chốt của khuynh hướng lãng mạn trong Văn học của Pháp ở thế kỷ 19, tư tưởng của Jean Jacques Rousseau và Chateaubriand đóng vai trò chủ đạo. Cuộc Cách Mạng Nhân quyền 1789 đã huỷu diệt một xã hội cũ. Napole'on Bonaparte đã sáng tạo một xã hội mới, gây ra một sự huyển hoặc sâu xa, một tinhfcamr mới mẻ, thổi một làn gió mới đày sáng tạo vào tâm hồn con người...Những đặ tính Văn học cũ về tư duy, về nhân sinh quan, về vũ trụ quan không đủ thỏa mãn cho nhu cầu tinh thàn của họ, không còn hấp dẫn họ, không còn làm cho họ say mê như thuở nào ( Như giới trẻ của chúng ta bây giờ không còn mấy ai thích đọc các tác phẩm của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn). Văn học các nước khác ở Châu Âu cũng tác động không ít vào Chủ nghĩa lãng mạn vào Văn học Pháp: Nào Byron, Wordworth và Ossian (Anh Quốc), Goethe và Schiller (Đức), Manzoni (Ý) ... Lamartine, Honore' de Balzac,Victor Hugo, Alfred de Vigny... là những thi, văn sĩ đi tiên phong trong phong trào theo Chủ nghĩa lãng mạn, đã đưa chủ nghĩa lãng mạn vào những sáng tác của họ, những làn thơ, những câu văn đầy tình cảm ướt át ra đời... Lamartine đã nói : " il y a des sites, des climats, des saisons, des heures, des circonstances exte'rieures, tellement en harmonie avec certaines impressions du coeur (tôi không biết đánh chữ e trong chữ o, "e dans l'o ) que la nature semble faire partie de l'âme et l'âme de la nature." Những tác phẩm đầu tiên có khuynh hướng lãng mạn rõ rệt nhất xuất hiện vào đầu thế kỷ 19 : Năm 1820, đó là tác phẩm Espe'riances của Lamartine và Những bài thơ đầu tay của Alfred de Vigny... Một số thi sĩ theo khuynh hướng lãng mạn đã kết hợp lại , thành lập một Ce'nacle,-một hình thức Câu lạc bộ Văn Nghệ Sĩ ngày nay hoặc Hội Văn Nghệ Sĩ ngày nay của chúng ta-, và bắt đầu xây dựng lý luận cuả Thi phái của Ce'nacle của mình. Năm 1827, Victor Hugo, một thành viên trong Ce'nacle, đã đem lại một thành quả cho Nhóm, bằng cách cho phát hành bảng Tuyên Ngôn của Ce'nacle :" Pre'face de Cromwell", nhằm đem khuynh hướng lãng mạn vào kịch nghệ và xem kịch nghệ như là một kết hợp giữa những gì được gọi là thanh nhã và những gì đượ xem như là thô lỗ; giữa những gì được xem là cao quý và những gì mà người ta xem là hèn mọn. Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn đọc một vài câu, một vài đoạn, một vài bài thơ có thể xem là tiêu biểu một phần nào khuynh hướng lãng mạn trong Văn học Pháp đầu Thế kỷ 19. +Lúc còn học lớp Đệ nhất (bây giờ là lớp 12), những ý thơ, âm điệu của bài Oceano Nox (Nuit sur L'Ocean) : Oh! Combien de marins, combien de capitaines, Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines, Dans ce morne horizon, se sont e'vanouis! ...... làm chúng ta nhớ đến bao nhiêu nỗi vất vả, lao nhọc, đau thương,- thậm chí mất mạng-, dành cho những thủy thủ, những người đánh cá đồng bào của chúng ta và cả loài người trên thế giới, bị thiên tai bão tố, bị giặc cướp, đôi khi phải vùi thây trong lòng biển cả, có đi, không về, mãi mãi nằm dưới lòng đại dương... +Ngày không còn nữa... Pâle, il marchait,-Au bruit de son pas grave et sombre, Il voyait à chaque arme , he'las! se dresser l'ombre. Des jours qui ne sont plus. (TRISTESSE D'OLYMPIO) +Đối với Lamartine, chúng tôi còn nhớ mấy câu : Borne' dans sa nature, infini dans ses voeurs, L'homme est un Dieu tombe' qui se souvient des cieux (L'HOMME) Ainsi, toujours pousse's vers de nouveaux rivages, Dans la nuit e'ternelle emporte's sans retour , Ne pourrons nous jamais sur l'oce'an des âges, Jeter l'ancre un seul jour ? (LE LAC) Trong đoạn cuối của bài l'Automne, ông viết : La fleur tombe en livrant ses parfums au ze'phire, À la vie, au soleil, ce sont ses adieux Moi, je meurs; et mon âme, au moment qu'elle expire; S'exhale comme un son triste et me'lodieux. Những câu thơ sau đây nói lên tâm hồn cực kì lãng mạn của Lamartine : Oh terre, oh mer, oh nuit, que vous avez de charmes ! Miroir e'blouissant d'e'ternelle beaute', Pourquoi, pourquoi mes yeux se voilent ils de larmes, Devant ce spectacle enchante' ! Pourquoi, devant ce ciel, devant ces flots qu'elle aime, Mon âme sans chagrin ge'mit -elle en moi même ? J'EHOVAH, beaute' suprême. C'est qu'à travers ton oeuvre elle a cru te saisir, C'est que de tes grandeurs l'ineffable harmonie, N'est qu'un premier degre' de l'echelle infinie. Qu'elle s'e'lève à toi de de'sir en de'sir. Et que plus elle monte et plus elle mesure. L'abime qui s'epare et l'homme et la nature De toi, mon Dieu, sont seul soupir ( L'abime, chữ i có dấu mũ trên đầu) +Alfred de Vigny và Alfred de Musset đều là những nhà thơ lãng mạn của Pháp ở thế kỷ 19: Seule dans l'Oce'an, seule toujours!, Perdue, Comme un point invisible en un moment d'esert, L'aventurière passe errant dans l'e'tendue, Et voit tel cap secret qui n'est pas d'ecouvert. (Alfred de Vigny) Mes chers amis, quand je mourrai, Plantez un saule au cimetière, J'aime son feuillage e'plore', La pâleur m'en est douce et chère, Et son ombre sera le'gère, À la terre où je dormirai. (Alfred de Musset) Nhưng ảnh hưởng mạnh nhất đến cuộc đời của tôi , đến tâm hồn tôi, đến tình cảm của tôi chính là những câu thơ sau: Je me souviens des jours anciens et je pleure . ..... Il pleurt dans mon coeur, Comme il pleurt sur la ville, Quelle est cette langueur, Qui pe'nètre mon coeur. (Verlaine) Mon âme a son secret, ma vie a son mystère. ( Không nhớ của ai ) Chúng tôi giữ nguyên văn, không dịch, bởi vì ..."Traduire , c'est trahir ". Đã nhiều năm chúng tôi không sử dụng ngoại ngữ nên có thể có những từ, những cụm từ viết sai chính tả trong lúc đánh máy đã đánh sai, Mong các bạn đọc thông cảm.

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

KÊ KHANG CẦM ĐÀI (1)

Cầm đài cổ tích ký Kê Khang ,
Nhân tử cầm vong đài diệc hoang .
Văn Vũ thất huyền chung tịch tịch
Đông Tây lưỡng Tấn (2) hiệc mang mang
Chí kim bất hủ duy đồng tính
Thử hậu hà nhân (3) đáo túy hương ?
Thán tức Quảng Lăng (4) huyền tuyệt hậu ,
Tỳ bà tân phổ bán Hồ Khương (5)

Tạm dịch :

CẦM ĐÀI CỦA KÊ KHANG

Tích cũ lầm đài của Kê Khang ,
Người chết đàn mất đài bỏ hoang .
Bảy dây văn vũ rốt cuộc lặng ngắt ,
Hai nhà Đông Tấn , Tây Tấn đều vằng tanh
Đến nay chỉ còn tính trẻ con là bất hủ .
Sau này còn ai được vào làng say nữa ?
Than thở ngao ngán cho khúc Quảng Lăng tán không còn ,
Phổ mới đàn tỳ bà một nửa là Hồ Khương

Chú thích :
 (1) Kê Khang : người đời Tấn , tài cao học rộng , đặc biệt có năng khiều về âm nhạc , thơ ca , say mê học thuyết Lão Tử và Trang Tử , sáng tác khúc nhạc Quảng Lăng tán
     Truyện Kiều có câu :
" Kê Khang này khúc Quảng Lăng

Kê Khang là một trong Trúc Lâm thất hiền ( bảy người hiền ở Trúc Lâm , gồm có : Hướng Tú , Kê Khang , Lưu Linh , Nguyễn Hàm , Nguyễn Tịch , Sơn Đào và Vương Nhung )
Sơn Đào làm Thượng Thư Bộ Lại  ( tương đương thủ tướng bây giờ ) từ chức , muốn đề cử Kê Khang thay ; Kê Khang viết thư tuyệt giao
Kê Khang chơi thân với Lữ An ...
( Xem chú thích (11) trang 53 bài " Kiều Đánh Đàn Lần Thứ Nhất " cuốn Tìm Hiểu Văn Học Cổ Điển Việt Nam , Nửa Đầu Thế Kỷ XIX Tập I của tác giả Võ Đại Mau )
(2) Đông Tây Lưỡng Tấn : Hai nước Tấn : Tấn ( Tư Mã Viêm )và Tấn ( Vương Mãng )
(3) Thử hậu hà nhân : sau này còn có ai
(4) Quảng Lăng : Quảng Lăng tán là khúc hát thương tiếc Nhà Ngụy do Kê Khang sáng tác . Truyện Kiều có câu :
" Kê Khang này khúc Quảng Lăng "
(5)Hồ Khương : Nước Hồ . Đàn Tỳ bà xuất phát từ nước Hồ

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XIX

KINH KHA CỐ LÝ (1 )

Bạch hồng quán nhật thiên man man 
Phong trần tiêu hề Dịch thủy hàn (2)
Ca thanh khảng khái kim thanh liệt , 
Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan (3)
Nhập Tần quan hề trì chủy thủ (4)
Lục quốc thâm thù nhất dẫn thủ (5)
Điện thượng thốt nhiên nhất chấn kinh , 
Tả hữu thủ bác vương hoàn trụ , 
Giai hạ Vũ Dương như tử nhân , (6)
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân 
Túng nhiên bất sát Tần Hoàng Đế , 
Dã toán cổ kim vô tỷ luân 
Quái để hành tung nguyên thị ẩn , 
Tăng dữ Yên Đan vô tức phận , 
Sát thân chỉ vị thụ nhân tri , 
Đổ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn (7)
Khả lân vô cô Phàn Ô Kỳ , (8)
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì
Nhất ? uổng sát tam liệt sĩ (9)
Hàm Dương (10) thiên tử chung nguy nguy .
Yên giao nhất vọng giai trần thổ ?
Thu nhật thu phong mãn quan lộ 
 Thị thượng ca thanh bất phục văn , 
Dịch thủy ba lưu tự kim cổ , 
Cố lý chỉ ? tung phục hoành , 
Chỉ hữu tàn bi do vị khuynh . 
Mạc đạo chủy thủ cánh vô tế , 
Yết cam trảm mộc vi tiên thanh 

Tạm dịch :
LÀNG CŨ CỦA KINH KHA

Mống trắng xuyên mặt trời , trời man man 
Gió thổi đìu hiu ( chừ ) nước sông Dịch lạnh 
Tiếng ca khảng khái như sắt thép , 
Kinh Kha từ đó vào ải Tần
Vào ải Tần ( chừ ) mang trủy thủ , 
Mối thâm thù của sáu nước đem theo một tay mình 
Trên điện bỗng dưng kinh hoàng , 
Người đuổi bắt , vua chạy quanh cột 
Dưới điện , Vũ Dương như người chết , 
Dũng khí hiên ngang duy chỉ có một mình ông .
Dẫu rằng không giết được vua Tần , 
Tính ra xưa nay không ai so bì được .
Quái lạ là người nguyên ở chợ , 
Chưa từng quen biết Thái Tử Đan nước Yên .
Liều mình chỉ vì người biết mình , 
Được Điền Quang tự tử dâng đầu 
Đáng thương Phàn Ô Kỳ vô tội 
Cắt đầu cho mượn không hoàn lại .
Một buổi sáng sớm diệt oan ba liệt sĩ , 
Ngôi vua ở Hàm Dương vẫn vững vàng 
Nước Yên nhìn qua đầy cát bụi , 
Ngày thu gió lạnh đầy đường , 
Trong chợ không còn nghe tiếng hát , 
Sóng nước sông Dịch xưa nay vẫn cuồn cuộn  
Làng cũ cây cối mọc ngang dọc , 
Chỉ có tấm bia tàn còn chưa đổ .
 Đừng nói mũi thanh trủy thủ vô dụng , 
Mở đầu cho việc chặt cây làm giáo dựng cờ khởi nghĩa 

(1) Kinh Kha : 
Trong các thích khách đời Xuân Thu Trung Quốc như Tào Mạt , Yêu Ly , Chuyên Chư , Nhiếp Chính , Kinh Kha , người đời sau liệt Kinh Kha vào hạng đại thích khách 
Tổ tiên Kinh Kha là người nước Tề , không biết là họ gì 
Kinh Kha di cư sang nước Vệ , người ? Vệ gọi là Khánh Khanh 
Kinh Kha thích đọc sách , múa gươm , tính tình trầm mặc , mừng vui , giận hờn không để lộ ra ngoài , đem kiếm thuật nói với Vệ Nguyên Quân , không được Vệ Nguyên Quân tin dùng , lại bàn kiếm thuật với Cáp tNhiếp , Cáp Nhiếp quắc mắt nhìn ra vẻ xem thường Kinh Kha , bảo với tả hữu :
- Ta vừa trợn mắt nhìn nó , bảo đảm nó sợ , bỏ đi rồi 
Tả hữu Cáp Nhiếp đến nhà trọ thì Kinh Kha đã đi rồi , về báo lại Cáp Nhiếp nói :
- Dĩ nhiên là nó đã đi rồi , thằng nhát gan ! Ta vừa trợn mắt dọa nó là nó sợ bỏ chạy . Thằng nhát gan ! Ha ha ! Ha ha 
Kinh Kha đến Hàm Đan , kinh đô nước Yên , đánh cờ với Lỗ Câu Tiễn . Vì tranh nhau một nước cờ mà Lỗ Câu Tiễn sĩ nhục Kinh Kha . Kinh Kha không nói gì , bỏ đi 
Kinh Kha có hai người bạn thân ở nước Yên : Người thứ nhất là một người chơi đàn trúc , thổi sáo rất tuyệt vời tên là Cao Tiệm Ly và người thứ hai là một người bán thịt chó không biết tên họ là gì 
Một danh nhân của nước Yên là Điền Quang rất quý trọng Kinh Kha , thường lui tới thăm viếng 
Vào thời điểm này , Tần Thủy Hoàng muốn tóm thâu sáu nước nên dùng quân lực buộc các nước phải gởi Thái tử qua Tần làm con tin . Thái tử Đan nước Yên trốn được về nước , tìm phương kế diệt Tần , hỏi Thầy học của mình là Cúc Võ . Cúc Võ khuyên Thái Tử Đan nên nhẫn nại vì nước Tần giàu , tướng giỏi , quân lực rất mạnh , địa thế lại hiểm trở , rất khó đánh 
Một tướng Tần tên là Phàn Ô Kỳ có tội với vua Tần , chạy trốn sang nước Yên , Cúc Võ khuyên không nên dung nạp lão tướng Phàn Ô Kỳ tránh làm cho vua Tần giận , gây binh đao bất lợi cho nước Yên nhưng Thái Tử Đan không nghe lời khuyên của Sư phó vì không dung nạp người cùng khốn chạy đến nương thân với mình là bất nhân 
Cúc Võ đề nghị Thái Tử Đan hỏi ý kiến Điền Quang . Điền Quang đến , được Thái Tử đón tiếp trọng đãi , coi như là một vị Sư phó của mình 
Điền Quang giới thiệu Kinh Kha với Thái Tử Đan rồi đâm cổ tự tử để giữ khí tiết không làm lộ sự việc bí mật trọng đại theo yêu cầu của Thái Tử Đan ( Thái Tử Đan yêu cầu Điền Quang đừng để lộ tin tức ) 
Qua bàn luận , Thái Tử Đan và Kinh Kha thống nhất phương án giết Tần Thủy Hoàng : Ám sát ! Đích thân 
Kinh Kha sẽ ra tay . Kinh Kha muốn mưa ? Được mưa ! Muốn gió ! Được gió !

VĂN HỌC LÃNG MẠN ĐẦU THẾ KỈ 19

Văn học lãng mạn thế kỉ 19 (tiếp) Nói đén Văn chương trữ tình lãng mạn thế kỉ 19 mà không đề cập đến các vị vua, cac vị vua, ông hoàng, bà chúa Nhà Nguyễn là một thiếu sót không nhỏ. Chúng ta đã từng gặp một "nhà thơ' Tự Đức với hai câu thơ : "Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi" (Khóc Bằng Phi) Một bầu trời tình cảm lai láng, đau thương có, hối tiếc có, một tình cảm "rất người" và cũng rất "khác người thường". Tôi đã từng viết :"Ai trong chúng ta, những người đàn ông một thời đã yêu, lại không muốn giữ một kĩ vật của nàng,--, một cái tàn y chẳng hạn-, để mà nhớ, để mà thương đã chứ?" (Xem Các Thi Sĩ Trong Cung Đình Nhà Nguyễn) Một Tùng Thiện Vương với một số bài thơ rữ tình mà chúng tôi đã giới thiệu trong Phần Một: "Quan sơn thu dạ minh nguyệt thì, Ảnh nhập ly diên động khách bi" (Tống biệt) Còn gì buồn hơn lúc hai người bạn thân, hai người thân, tiễn biệt nhau, nhất là chia tay nhau ở ngoài quan ải, trong một đêm trăng thu, ánh trăng lạnh lùng là chứng nhân của cuôc chia ly..."Không hẹn ngày gặp lại" thì buổi ly biệt hôm nay cũng là buổi vĩnh biệt, chia tay nhau mãi mãi ... Tương An Quận Vương còn lãng mạn hơn cháu (Vua Tự Đức là cháu ) và anh (Tùng Thiện Vương là anh) nhiều. Nào là : " Đại nhân điếu kỹ" ( Thay người điếu kỹ nữ) "Hoạt tường sơ vũ trúc tiêu tao, Hình ảnh hà kỳ mộng tưởng lao, Cựu túc loan phòng thê yến tước Tằng du hoa kính trưởng bồng hao." ..... nào " Từ Thức Động" (Độn Từ Thức) " .... Thiên niên sơn đắc hồn như tạc, Khước vọng vân gian điếu Giáng Hương " "Thương vay, khóc mướn" là điều tất yếu của những con người đa cảm, ủy mị (và...giàu tiền bạc!!!??? ) Chúng ta cũng đã biết nguyên nhân nào đã biến Tương An thành con người chí tình, con người vị tha như vậy. - thương cho người kỹ nữ lúc xuân sắc đã tàn phai... -thương nàng Giáng Hương đã phải chia tay mãi mãi với người mình yêu... -thương cho người vợ bé bỏng ở chốn khuê phòng mỏi mòn đợi chờ người chông thân yêu thắng trận trở về" "Nhất tự chinh nhân khứ, Vô do đạt thiếp tình, Dạ thâm văn nhạn quá, Tịch mịch bách sầu sinh." (Thu khuê) :Sơ lâm hoàng diệp tận, Tiêu tức hà thái trì, Thu phong thiên khí lương, Cửu nguyệt thụ y thì. Bắc nhạn viễn vô thư, Bất kiến quân qui kỳ. Trường không hữu minh nguyệt, Cánh khởi trường tương tư. (Sầu tư) Điểm đặc biệt là trong thơ văn của Tuy Lý Vương, chúng tôi không tìm thấy một nét đa tình đa cảm của ông anh( Tùng Thiện Vương) va ông em (Tương An Quận Vương). Tình cảm của Tuy Lý Vương,-qua thơ văn-, nhẹ nhàng và bình dị.

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỔ ĐIỂN THẾ KỶ 19

MỘT THOÁNG LÃNG MẠN VIỆT NAM TỪ DÂN GIAN ĐẾN TRI THỨC Sau ngày Đất Nước chúng ta thống nhất, tôi có dự một buổi văn nghệ Quần chúng, đây là lời chàng trai tỏ tình cùng cô bạn gái : Khoai to vồn thì tốt cộ ( cộ : củ ) Đậu ba lá vừa un, Gà mất mẹ lâu khun (khun : khôn) Gái muốn trai thì thậm khổ, Trai muốn gái cũng thậm khổ. Trời sinh giếng, sinh mo, Trời sinh o, sinh tui ( o : cô) O một mình khôn đặng (khôn : không) Tui một mình khôn đặng Gió ngoài nớ thổi vô, (ngoai nớ : ngoài đó) Mây trên trời cuốn lại, O với tui cuốn lại. Dĩ nhiên đây không phải là "Lời tỏ tình mùa xuân" của một nhạc sĩ mà là lời tỏ tình của một chàng trai nông dân mộc mạc chất phác. Những câu hò, hát, ví , những khúc hát giao duyên đối đáp giữa nam và nữ đều mang tính lãng mạn, không nhiều thì ít . Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đỏ di ? Có lãng mạng không ? Giữa huyện Phong Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên và huyện Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị có môt dòng sông nhỏ mà môt thời đã đi vào Lịch Sữ và Văn học sữ nước ta: Dòng song Ô Lâu, có một bến đò gọi là Bến Đò Ba Bến.Dòng sông Ô Lâu chảy lặng lẽ giữa hai rặng tre xanh hiền hòa ngăn cách hai tỉnh Người xưa kể rằng : Vào thời đóng Đô ở Kinh Thành Huế, có một thư sinh từ Bắc lặn lội vào Kinh để dự thi Đình, qua sông Ô Lâu bằng con thuyền ở Bến đò Ba Bến. Người chèo thuyền là một cô gái tuổi mười tám, đôi mươi, xinh xắn, dịu dàng, đã làm rung động trái tim chàng thư sinh tài hoa. Trước phong cảnh hữu tình, trăng thanh, gió mát, trước cái vẻ đẹp thùy mị của cô lái, chàng thư sinh không cầm lòng được, cất tiếng ngâm nga...Trên con thuyền nhẹ nhàng vượt sông, tiếng ngâm thơ sang sảng của chàng thư sinh đã làm cho cô lái không thể không hâm mộ. Vốn đã từng đi học, nàng cất tiếng khen ngợi người khách taid hoa. Tuy chưa nói ra nhưng cả hai người đều nghĩ rằng họ sẽ là của nhau trong môt ngày không xa... Thi đậu Tiến sĩ, chàng thư sinh trở về Bắc. Trên con thuyền nhỏ, hai người quyện với nhau thành một. Chàng hẹn rằng sau khi về đến nhà, sẽ thưa với Song Thân vào đón nàng về Đất Bắc kết duyên cùng chàng. "Ra về để áo lại đay, Đêm khuya Em đắp kẻo ngọn gió Tây lạnh lùng" Cô lái chờ ! Cô lái đợi! Đợi mõi, đợi mòn ! Rồi một hôm, nàng bỏ thuyền, bỏ Bến, đi tìm tình quân. Lang thang một mình trên con đường ra Bắc, nhiều nỗi gian truân, vất vả, bữa no, bữa đói " Đói lòng ăn nửa trái sim, Uông lưng bát nước, đi tìm người thương" Đi qua Truông Nhà Hồ, giữa rừng hoang vắng, nỗi lo, nỗi sợ ; lo thân gái dặm trường, nỗi sợ không biết có tìm ra nhà chàng hay không và có tìm ra thì thái độ của Song Thân chàng , của gia đình chàng đối với mình như thế nào? Không biết cô lái có tìm ra chàng thư sinh hay không nhưng một hôm kia, người ta thấy nàng xuất hiện lại trên con thuyền cũ... Rồi một hôm, nàng chèo thuyền ra giữa dòng sông Ô Lâu , rồi...rồi nàng nhảy xuống sông. Nàng tự tử!!! Từ đó, con thuyền lại đưa khách sang sông nhưng người chèo là một ông cụ già, không biết có phải là cha của nàng hay không? " Trăm năm dầu lỗi hẹn hò, Cây đa bến cũ con đò khác đưa. Cây đa bến cũ còn lưa, Con đò đã thác năm xưa tê rồi." Xin giới thiệu với các bạn đọc bài thơ " Cô Lái Đò" của thi sĩ Nguyễn Bính trong thi phẩm " Lỡ bước sang ngang" " Xuân đã đem mong nhớ trở về, Lòng cô lái ở bến sông kia, Cô hồi tưởng lại ba xuan trước, Trên bến cùng ai đã nặng thề. Nhưng rồi người khách tình xuân ấy, Đi biệt không về với bến sông, Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi, Mấy lần cô lái mỏi mòn trông. Xuân này đến nữa đã ba xuân, Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần. Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi, Nàng đành lỗi ước với tình quân. Bỏ, thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông, Cô lái đò kia đi lấy chồng. Vắng bóng cô em từ dạo ấy, Để buồn cho những khách sang sông. Không hiểu tại sao trong tôi lại văng vẳng một đoạn 4 câu nữa: Nhưng rồi trên bến một đêm kia, Người khách tình xưa ấy trở về, Cô lái đã vui duyên phận mới, Chàng còn về nữa để mà chi ?" Bài thơ của Thi sĩ Nguyễn Bính đã được phổ nhạc nhưng, tôi xin lỗi, không nhớ là nhạc sĩ nào! Nếu dòng sông Ô Lâu đã chứng kiến một thiên tình sử lãng man đầy chất thơ thì dong Hương Giang cũng đã để lại trong lòng người dân xứ Huế một mối tình tha thiết không kém đau thương. " Câu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp, Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi! Bấy nhiêu lâu chịu tiếng mang lời, Có xa nhau đi nữa Cũng bởi ông trời mà xa! " Người xưa kể rằng : Có một chàng trai ở Long Thọ yêu một cô gái, con một vị võ quan của Triều đình Nhà Nguyễn, có nhà ở Kim Long, gần chùa Thiên Mụ. Mỗi lần muốn gặp nhau, chàng trai phải bơi từ bên ni sang bên kia sông. Mối tình đang tha thiêt mặn nồng thì gia đình vị võ quan kia biết được, không muốn con gái yêu thương một chàng trai không môn đăng hộ đối, liền cắt đưt mối tình của con gái, vị võ quan xin chuyển đỏi ra Bắc... Được tin, chàng trai chạy bộ về đến bên ni cầu Trường Tiền thì bên kia cầu, xe ngựa đã chuyển bánh... Có xa nhau đi nữa... Cũng bởi ông trời mà xa....